Tổ tiên của chúng ta chỉ có thể phân tích thế giới này bằng các giác quan của mình và bằng cả “độc tố học cảm tính” (intuitive toxicology) đối với những người không có những công cụ đó. Nhưng khoa học đã khám phá những điều có ở đuôi sao chổi và cũng phát hiện ra sự ô nhiễm trong đất, nước và không khí với những lượng nhỏ hơn cảm giác có thể thấy được. Thực tế là ngày nay chúng ta có đủ trình độ công nghệ để phân tích thành phần nước uống đến mức một phần tỉ – tương đương với một hạt đường trong một cái bể bơi thi đấu Olympic – thậm chí một số phân tích còn có thể đạt mức một phần nghìn tỷ.  Trực giác không biết những con số đó thì có ý nghĩa gì. Chúng chỉ có thể nằm ở khả năng giỏi tính toán của một Cái Đầu cho nên để hiểu được chúng ta phải dùng hình ảnh một hạt đường trong một cái bể bơi.

Những hóa chất tổng hợp nằm trong cơ thể đang gây lo lắng cho mọi người thường chỉ là những lượng rất nhó gần như không thể mô tả. Chúng chỉ là những lượng nhỏ, giống như lượng kim loại nặng phóng xạ mà chúng ta vô tư tiêu thụ trong suốt cuộc đời mà không biết đến sự tồn tại thầm lặng của chúng. Đúng là nhiều loại hóa chất có thể gây ung thư hay các tác hại kinh khủng khác nhưng căn cứ khoa học của những kết luận này lại không nằm ở số lượng nhỏ thế này. Thậm chí còn cho thấy điều ngược lại.

Bước thí nghiệm đầu tiên về tác hại của chất gây ung thư là trên những chú chuột với lượng hóa chất có thể giết chết chúng. Điều này sẽ giúp các nhà nghiên cứu biết về một lượng cao hơn cái gọi là “Liều lượng tối đa cho phép” (MTD). Từ đó họ giảm bớt liều lượng hóa chất này và tiêm vào một số con. Nếu chúng vẫn sống thì họ sẽ biết mức MTD là bao nhiêu. Bước tiếp theo, họ tiêm vào 50 con chuột với mức MTD này và 50 con chuột khác với mức chỉ bằng 1/10 hoặc 1/2 và thêm một nhóm thứ ba gồm 50 con chuột khác may mắn không bị tiêm gì cả. Cuộc sống bình thường của đám chuột này được theo dõi liên tục hàng ngày trong khoảng 2 năm. Rồi các nhà khoa học mổ xẻ chúng ra để tìm các khối ung thư hay các biến chứng khác. Cùng với dự án này, người ta cũng tiến hành một quy trình tương tự với các nhóm chuột khác, ít nhất là trên các giống chuột khác.

Các xét nghiệm đã cho thấy nhiều con có ung thư. Gần 1/3 số con vật gặm nhấm này có những khối u dù chẳng được tiêm cái gì vào. Vì vậy để xác định một hóa chất có gây ung thư hay không thì những con chuột được tiêm chất này phải có tỉ lệ ung thư cao hơn. Và thường là như thế. Lois Swirsky Gold nói rằng “Một nửa được xét nghiệm là chất gây ung thư với liều cao”. Nhưng sự liên quan của phát hiện này với việc nhiễm một lượng độ chất vẫn chưa rõ ràng vì các số lượng ở đây rất khác nhau. “Với các dư chất thuốc trừ sâu, lượng tìm thấy trong người còn thấp hơn 100.000 hoặc 1.000.000 lần so với lượng tiêm vào các chú chuột trong các thí nghiệm này”. Còn một câu hỏi đặt ra là các giống chuột có phản ứng trước một loại hóa chất giống như con người hay không. Chẳng hạn, các cuộc thí nghiệm cho thấy xăng dầu có thể gây ung thư cho chuột đực nhưng khi nghiên cứu kỹ hơn về lượng xăng dầu có thể gây ung thư, các nhà khoa học nhận ra rằng nguyên nhân chính lại là sự kết hợp giữa một hóa chất có trong xăng dầu với một loại protein tìm thấy trong thận của những chú chuột này – một loại protein không hề có trong cơ thể người. Thật không may, những phân tích cụ thể nhằm xác định chính xác làm sao một hóa chất có thể gây ung thư cho các con vật thí nghiệm vẫn chưa được thực hiện với hầu hết các hóa chất được cho là có thể gây ung thư, cho nên một loạt hóa chất được coi là gây ra ung thư ở các loại chuột, nhưng không rõ bao nhiêu hóa chất ở đây có thể thực sự gây ra ung thư ở người.

Một công cụ thứ hai mà các nhà khoa học sử dụng để xác định liệu một hóa chất có phải là chất gây ung thư hay không đó là nghiên cứu xem trong số đông dân cư những người tiếp xúc với hóa chất đó có thể bị ung thư nhiều hơn hay không. Đây là một lĩnh vực dịch tễ học đã có nhiều đóng góp cho nền y học trong hơn một thế kỷ rưỡi qua. Thật không may là khi ngành dịch tễ học tìm ra sự liên hệ giữa hai thứ thì thường là không phải cái này gây ra cái kia. Chẳng hạn, tội phạm và những hình xăm có liên hệ mật thiết với nhau nhưng hình xăm không thể gây ra tội phạm. Vì vậy nếu các nhà dịch tễ học chỉ ra rằng những người công nhân đóng tàu làm việc với amiăng có tỉ lệ mắc ung thư cao thì đó chỉ là một ví dụ cho thấy rõ chất này có thể gây ung thư chứ không phải là căn cứ. Cần phải nghiên cứu nhiều thêm nữa. Bruce Ames nói “Dịch tễ học là một ngành vô cùng khó. Đó là việc nghiên cứu về con người và có hàng triệu điều khó hiểu quanh đó”. Các nghiên cứu liên tục ra đời nói rằng cái này liên hệ với cái kia, rằng chỉ biết là có một mối tương quan… cho nên đã dẫn đến một sự lạm dụng. “Bạn có thể dễ dàng thổi phồng lên. Tờ báo địa phương của chúng ta cứ vài tuần lại đưa ra một câu chuyện đáng sỡ. Họ thích những câu chuyện đó, nhưng tôi thì không tin bất cứ chuyện gì”. Ames lấy ví dụ về một cuộc tranh cãi ở quận Contra Costa ở California. “Có nhiều nhà máy lọc dầu ở đây và cũng ngày càng có nhiều người bị ung thư ở đây. À, vậy là những nhà máy này gây ra ung thư. Nhưng ai sống gần các nhà máy lọc dầu? Những người nghèo. Và ai hút thuốc nhiều hơn? Cũng là những người nghèo. Vậy khi coi hút thuốc chính là nguyên nhân thì không còn hiểm họa nào trong khu vực nào nữa”.

Hạn chế của những thí nghiệm trên động vật, của ngành dịch tễ học và các dạng chứng cứ khác đã đưa các cơ quan quản lý đến các hệ thống phân loại các chất gây ung thư. Cách dùng từ thì khác nhau nhưng họ thường dán nhãn là chất gây ung thư “tiềm ẩn”, “có khả năng” hay “đã được biết”. Những mức độ này cho thấy độ chắc chắn dựa trên các dạng chứng cứ được thu thập. Các nhà khoa học hiện nay ít chú trọng đến bất kỳ một chứng cứ cụ thể nào và việc thí nghiệm với liều cao trên những con vật càng không được coi trọng. Chúng vẫn được coi là những chứng cứ có giá trị nhưng không có sức nặng như những người ngoại đạo vẫn nghĩ.

Ngoài Trực giác ghét sự lây nhiễm vốn có từ xa xưa, chính môi trường văn hóa cũng dẫn người ta đến nhận thức rằng tiếp xúc với một lượng hóa chất tổng hợp sẽ gây nguy hiểm. Các nhà tiếp thị doanh nghiệp rất thích coi các sản phẩm của mình là “từ thiên nhiên” vì họ hiểu rằng thiên nhiên đồng nghĩa với tốt cho sức khỏe, giàu dinh dưỡng – và an toàn. Bruce Ames nói “Họ có ấn tượng rằng nếu là tự nhiên thì nó không thể độc hại và điều này hơi ngây thơ một chút”. “Một hôm ở Berkeley, tôi thấy người ta bán một túi than củi và nói “không có phụ gia, hoàn toàn tự nhiên”. Nhưng đó cũng chính là một chất gây ung thư!”

Trong cuộc khảo sát năm 2004 của Daniel Krewski, “các sản phẩm tự nhiên lành mạnh” vẫn được coi là an toàn nhất trong 30 loại được nêu ra – thậm chí còn an toàn hơn tia X và nước máy. Thuốc kê đơn được coi là nguy hiểm hơn, còn thuốc trừ sâu được coi là nguy hiểm hơn cả tội phạm đường phố và các nhà máy điện hạt nhân. Không khó đoán ra cách tư duy đằng sau chuyện này hay xem Trực giác đã ảnh hưởng đến nó ra sao. Tự nhiên và lành mạnh là những điều tuyệt vời vậy thì các sản phẩm này phải an toàn. Thuốc kê đơn cứu sống con người cho nên dù không được coi là an toàn như “các sản phẩm tự nhiên lành mạnh” vì mọi người đều biết là chúng có thể có tác dụng phụ song chúng vẫn tốt và do đó nó tương đối an toàn. Nhưng “thuốc trừ sâu” là “nhân tạo” và “hóa chất” cho nên rất nguy hiểm. Điều nực cười ở đây lại là một vài loại “sản phẩm tự nhiên lành mạnh” mà hàng triệu người đang ngấu nghiến ăn vào đã được xét nghiệm chi tiết xem chúng có tác dụng thật không mà các yêu cầu quy định về độ an toàn của chúng lại thấp hơn các quy định đối với thuốc uống và thuốc trừ sâu.

Nhiều công ty và cả toàn bộ ngành công nghiệp thực phẩm hữu cơ đã tích cực quảng bá ý tưởng rằng hóa chất rất nguy hiểm. “Những gì chưa biết về clo sẽ gây hại cho bạn”. Lời cảnh báo từ trang web của một công ty ở Florida kinh doanh các hệ thống lọc nước cho rằng việc loại bỏ các phụ phẩm trong quá trình xử lý clo có thể tăng nguy cơ bị ung thư ở một mức độ nhỏ. Thỉnh thoảng các chính khách cũng thổi phồng các nguy cơ của việc nhiễm độc hóa chất. Nghị sĩ Henry Waxman từng tuyên bố “Thạch tín là một thủ phạm giết người. Một điều mà tất cả chúng ta dường như đều đồng ý đó là không thể để thạch tín có trong nước uống của mình”. Thạch tín thường phổ biến trong môi trường tự nhiên và thường tìm thấy một lượng nhỏ trong nước uống. Nhưng vào mùa xuân năm 2001, Waxman chợt thấy không thể bỏ qua điều này sau khi chính quyền Bush tạm ngừng các quy định hiện hành về mức độ thạch tín cho phép có trong nước và yêu cầu nghiên cứu kỹ thêm. Đây là một cuộc tranh cãi về việc bao nhiêu thạch tín trong nước thì là an toàn, chứ không phải là liệu có nên để trong nước có dù chỉ một lượng nhỏ thạch tín hay không. Nhưng vị nghị sỹ trên và phe của ông ta ở đảng Dân chủ đã tận dụng cơ hội này để lên án rằng chính quyền Bush muốn để chất độc trong nước uống.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Dan Gardner – Nguy cơ, khoa học & chính trị về nỗi sợ hãi – NXB LĐXH 2008.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s