Phạm Văn Đức

……..

Còn ở Việt Nam, phát triển bền vững đã trở thành mục tiêu chiến lược và được đề ra từ những năm 80 của thế kỷ XX. Cùng với thời gian, khái niệm phát triển bền vững đã có sự thay đổi về nội hàm và ngày càng được bổ sung thêm những nội dung mới.

Xét về nguồn gốc, thuật ngữ phát triển bền vững ra đời từ những năm 70 của thế kỷ XX và bắt đầu thu sự chú ý của các nhà nghiên cứu về môi trường và phát triển quốc tế nhờ sự ra đời của công trình Chiến lược bảo tồn thế giới (1980). Sau đó, tư tưởng về phát triển bền vững được trình bày trong một loạt công trình, như Tương lai chung của chúng ta (1987), Chăm lo cho Trái đất (1991)… Khi nói về sự phát triển bền vững, người ta thường sử dụng hai định nghĩa đã được nêu ra trong các cuốn sách nói trên. Trong cuốn Tương lai chung của chúng ta, phát triển bền vững được hiểu là sự phát triển đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai; còn trong cuốn Chăm lo cho trái đất, phát triển bền vững được xác định là nâng cao chất lượng đời sống con người đang tồn tại trong khuôn khổ đảm bảo các hệ sinh thái. Nhìn chung, cả hai định nghĩa đó đều quy phát triển bền vững về việc sử dụng một cách hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sao cho thế hệ hôm nay vẫn phát triển được mà không làm ảnh hưởng đến tương lai của các thế hệ sau.

Như vậy, nếu xét theo nguồn gốc của thuật ngữ, phát triển bền vững là một sự phát triển bảo đảm tăng trưởng kinh tế trên cơ sở sử dụng một cách hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ được môi trường tự nhiên nhằm vừa có thể thỏa mãn được nhu cầu của thế hệ hôm nay, vừa không làm ảnh hưởng đến điều kiện thỏa mãn nhu cầu và môi trường sống của các thế hệ mai sau. Thực chất của sự phát triển bền vững là giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường tự nhiên, bảo đảm sự công bằng giữa các thế hệ trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Như vậy, ngay trong nội dung của khái niệm phát triển bền vững đã bao hàm nội dung hài hòa, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường, hài hòa giữa các thế hệ trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và môi trường sống.

Tuy nhiên, ở Việt Nam, ngoài nội dung trên đây, khái niệm phát triển bền vững còn được bổ sung thêm nhiều nội dung mới. Việt Nam chủ trương xây dựng chiến lược phát triển bền vững phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của đất nước. Chiến lược phát triển bền vững đã được Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định trong Văn kiện Đại hội IX và tiếp tục được phát triển thêm trong Văn kiện Đại hội X.

Khi nói về quan điểm phát triển. Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ mục tiêu của sự phát triển là “phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”; “…tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường; kết hợp phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường quốc phòng – an ninh”.

Chúng ta có thể nhận thấy rằng, trong Văn kiện Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam, nội dung của khái niệm phát triển bền vững, ngoài tăng trưởng kinh tế đi đối với bảo vệ môi trường, còn có thêm nội dung mới, đó là kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; kết hợp phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường quốc phòng – an ninh. Như vậy, nếu khái niệm phát triển bền vững, theo quan niệm gốc, “kinh điển”, chủ yếu nói đến mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, mối quan hệ giữa người với người trong quan hệ với tự nhiên, thì trong quan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển bền vững tại Đại hội IX, ngoài quan hệ giữa con người với tự nhiên còn đề cập đến nhiều mối quan hệ xã hội khác, như quan hệ giữa lĩnh vực kinh tế với lĩnh vực xã hội, văn hóa và an ninh – quốc phòng.

Không dừng lại ở đó, đến Đại hội X, khi tổng kết thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội những năm gần đây, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu lên 5 bài học kinh nghiệm quý báu, trong đó bài học đầu tiên là bài học về phát triển nhanh và bền vững. Nội dung bài học đó được thể hiện ở những điểm chủ yếu sau:

Thứ nhất, phát triển nhanh phải đi đôi với tính bền vững. Điều đó phải được kết hợp ở cả tầm vĩ mô lẫn vi mô, ở cả tầm ngắn hạn lẫn dài hạn.

Thứ hai, tăng trưởng về số lượng phải đi liền với nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Thứ ba, trong khi khai thác các yếu tố phát triển theo chiều rộng, phải đặc biệt coi trọng các yếu tố phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức.

Thứ tư, phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển toàn diện con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói giảm nghèo.

Thứ năm, phải coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường ngay trong từng bước phát triển.

Thứ sáu, phát triển kinh tế phải đi đôi với việc bảo đảm ổn định chính trị – xã hội, coi đây là tiền đề, điều kiện để phát triển nhanh và bền vững.

Có thể nói, đây là những nội dung cơ bản trong chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam, đã thể hiện khá rõ sự kết hợp giữa quan điểm truyền thống, kinh điển và quan điểm mới, riêng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong chiến lược phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam, chúng ta có thể nhận thấy:

Thứ nhất, yếu tố ổn định chính trị – xã hội được xem là tiền đề, điều kiện để phát triển nhanh và bền vững.

Thứ hai, chiến lược phát triển nhanh, bền vững tập trung nâng cao chất lượng phát triển, kết hợp giữa phát triển kin tế với việc phát triển toàn diện con người, thự chiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói giảm nghèo, với việc coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường ngay trong từng bước phát triển.

Thứ ba, chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam đã đè cập một cách khá toàn diện các khía cạnh khác nhau của sự phát triển, trong đó nổi lên việc giải quyết hài hòa các mối quan hệ, như hài hòa giữa phát triển nhanh và bền vững, giữa tăng turởng về số lượng và nâng cao chất lượng, giữa phát triển theo chiều rộng và phát riển theo chiều sâu; hài hòa giữa phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ và cải thiện môi trường… Hài hòa là một trong những nội dung quan trọng của chiến lược phát triển bền vững.

Thứ tư, vấn đề trọng tâm, mục tiêu cơ bản của chiến lược phát triển bền vững chính là vấn đề dân sinh. Điều đó được thể hiện trong nội dung của chiến lược mà chúng tôi vừa trình bày. Chiến lược phát triển nhanh và bền vững đã chú trọng đến chất lượng của sự tăng trưởng kinh tế, hướng tới sự phát triển toàn diện của con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói giảm nghèo, với việc coi trọng và bảo vệ và cải thiện môi trường ngay trong từng bước phát triển. Rõ ràng, mục tiêu đó, xét đến cùng, là nhằm giải quyết ngày càng tốt hơn vấn đề dân sinh, bảo đảm cho mọi người dân có cuộc sống ấm no và hạnh phúc. Trên thực tế, chiến lược phát triển nhanh, bền vững là phương thức hữu hiệu bảo đảm cho sự phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, với mục tiêu là “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”.

3/ Kết luận

Thứ nhất, nếu so sánh chủ trương xây dựng xã hội hài hòa XHCN của Trung Quốc và chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam, chúng ta có thể nhận thấy rằng, mặc dù được diễn đạt bằng những thuật ngữ khác nhau, song nội dung của chúng có những điểm tương đồng hết sức cơ bản. Điều đó được thể hiện ở chỗ, chủ trương xây dựng xã hội hài hòa của Trung Quốc coi phát triển bền vững là một trong những nội dung quan trọng, còn chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam coi sự hài hòa là một nội dung cơ bản, bao trùm của sự phát triển.

Thứ hai, chủ trương xây dựng xã hội hài hòa lẫn chiến lược phát triển bền vững đều tập trung vào chất lượng của sự phát triển, kết hợp một cách hài hòa giữa phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội cũng như bảo vệ môi trường; coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế – xã hội. Nói tóm lại, cả hai chủ trương và chiến lược đó đều xác định vấn đề dân sinh là trọng tâm, là mục tiêu tổng quát.

Thứ ba, vấn đề dân sinh của các giai tầng cụ thể đã được Đảng Cộng sản hai nước tiếp tục đề cập một cách cụ thể trong các nghị quyết gần đây. Ngoài những điểm đặc thù do điều kiện lịch sử, kinh tế và văn hóa mỗi nước quy định, chúng ta có thể tìm thấy những nét tương đồng. Việt Nam là nước nhỏ hơn về lãnh thổ và dân số, đồng thời quá trình đổi mới cũng được tiến hành sau Trung Quốc 8 năm. Do vậy, những kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc giải quyết vấn đề dân sinh chắc chắn sẽ là những bài học vô cùng bổ ích đối với Việt Nam.

Nguồn: Phạm Văn Đức, Đặng Hữu Toàn & Nguyễn Đình Hòa (đcb) – Vấn đề dân sinh và xã hội hài hòa – NXB KHXH 2010.

Phạm Văn Đức là PGS, TS, Viện trưởng Viện triết học, Tổng biên tập Tạp chí Triết học, Viện KHXH Việt Nam.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s