Báo chí khi theo đuổi câu chuyện căng thẳng này cũng góp phần làm nỗi sợ hóa chất lan rộng ra. Robert Lichter và Stanley đã đi tìm lại các bài viết về ung thư trên báo chí Mỹ từ năm 1972 đến 1992 và phát hiện ra thuốc lá chỉ là loại nguyên nhân dẫn đến ung thư được nhắc đến nhiều thứ hai. Thứ ba là các chất phụ gia thực phẩm. Thứ 6 là ô nhiễm, thứ 7 là phóng xạ, thứ 9 là thuốc trừ sâu và thứ 12 là thành phần dinh dưỡng. Hóa chất tự nhiên đứng thứ 16. Chết dí ở cuối danh sách 25 loại nguyên nhân này chính là nhân tố quan trọng nhất (song chỉ được nhắc đến trong 9 bài báo), đó là tuổi già. Lichter và Rothman cũng nhận thấy trong các bài viết nêu ý kiến về việc liệu nước Mỹ có đang trải qua một dịch bệnh ung thư hay không, 85% bài nói rằng có.

Điều này có những tác động có thể biết trước lên công luận. Tháng 11 năm 2007, Viện Nghiên cứu Ung thư Hoa Kỳ (AICR) đã công bố các kết quả nghiên cứu trong đó những người Mỹ đã được hỏi về những nguyên nhân gây ung thư. Theo Viện này, thật đáng buồn là chỉ có 49% số người coi chế độ ăn uống ít rau quả là một nguyên nhân gây ung thư, 46% cũng nhìn nhận tương tự đối với chứng béo phì, 37% đối với rượu và 36% đối với chế độ ăn nhiều thịt đỏ. Nhưng có đến 71% người nói rằng dư lượng thuốc trừ sâu có trong thức ăn đã gây ra ung thư. Một phát ngôn viên của AICR đã nói “Nỗi lo của mọi người chẳng gắn gì với những thông tin khoa học”.

Lichter và Rothman lập luận rằng hình ảnh về ung thư trên báo chí là do quan tâm quá ít đến các nghiên cứu về ung thư trong khi lại quan tâm quá nhiều đối với các nhà môi trường học. Như John Higginson đã nêu ra 30 năm trước đây, các nhà hoạt động chống ô nhiễm hóa chất thường thích ý tưởng hóa chất tổng hợp gây ra ung thư. Nếu DDT chỉ đe dọa các loài chim thì Rachel Carson đã không gây ra cơn chấn động như với Silent Spring. Chính sự liên hệ giữa ô nhiễm và sức khỏe con người khiến môi trường trở thành một vấn đề quan tâm cá nhân và việc gắn hóa chất tổng hợp với sức khỏe cũng dễ dàng hơn vì hóa chất có ở khắp nơi và Trực giác bảo chúng ta rằng chúng nguy hiểm dù chỉ với một lượng nhỏ. Thêm từ “ung thư” có tính nhạy cảm là bạn đã có một cách hiệu quả để thu hút sự ủng hộ đối với các hoạt động môi trường.

Dù mục tiêu cuối cùng của họ có đáng hoan nghênh đến thế nào thì nhiều chuyên gia vẫn không hài lòng với những gì các nhà bảo vệ môi trường nói với công luận về hóa chất và sức khỏe. Năm 2005, Alan Boobis, một nhà độc tố học ở khoa Y trường Imperial ở London đã nói rằng “Đây là sự phao tin vô trách nhiệm và quá khích”. Boobis và các nhà khoa học hàng đầu khác của Anh đều tức giận khi nhiều tổ chức bảo vệ môi trường, đặc biệt là WWF đã lên án quá nhiều về sự tồn tại của “hóa chất độc hại” trong máu, thức ăn và thậm chí cả nhau thai. Ông đã nói với tờ The Guardian rằng “Hầu hết các hóa chất đều chỉ thấy có với một tỷ lệ phần tỉ. Không có căn cứ cho thấy những lượng nhỏ đó gây tổn hại cho sức khỏe con người”. David Coggon, một chuyên gia nghiên cứu về các nguyên nhân nghề nghiệp và môi trường gây nên ung thư và các căn bệnh khác ở Đại học Southampton đã nói với BBC “Thông điệp mà họ đưa ra thật sai lầm và có chủ ý”. Richard Sharpe, một chuyên gia về rối loạn nội tiết tại bộ môn sức khỏe Sinh sản Con người của Hội đồng Nghiên cứu Y khoa Edinburgh bổ sung “Nói chung tôi nghĩ là mọi người không nên lo lắng. Hầu hết các hóa chất sẽ không gây hại nếu ở mức độ nhỏ”. “Bạn cần nhìn nhận khách quan về vấn đề này”.

Các chiến dịch giống như của WWF thường thấy ở nhiều nước. Một nhan đề thông cáo báo chí năm 2007 của cơ quan Bảo vệ Môi trường Canada đã viết “Các chất gây ô nhiễm đã đi vào máu các chính khách liên bang” và tuyên bố xétnghiệm cho thấy hàng chục “chất gây ô nhiễm độc hại” đã được tìm thấy trong máu và nước tiểu của nhiều chính khách hàng đầu ở Canada. Báo chí liền đăng tải rầm rộ, chủ yếu tập trung nhiều vào tính chất đáng sợ của các hóa chất và rất ít chú ý đến số lượng liên quan. Đây lại là một thành công nữa của chiến dịch mà cơ quan trên gọi là “Đất nước nhiễm độc” với một câu khẩu hiệu “Ô nhiễm. Ngay trong người bạn”. Có rất nhiều thông tin trên trang web của chiến dịch này nói về sự thừa thãi các hóa chất tổng hợp trong cơ thể chúng ta mà không hề đả động gì đến việc có mặt những lượng nhỏ hóa chất “nguy hiểm” thực ra lại không gây nguy hiểm. Chỉ trong phần danh mục thuật ngữ chuyên môn, khi định nghĩa về “độc tính”, trang web này mới  hé lộ rằng mặc dù có thể gây nguy hiểm song “số lượng và mức độ tiếp xúc đủ để gây ra những tác động còn tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố”.

Những lỗi cố ý bỏ qua đó rất phổ biến. Trang web của Hội đồng Bảo vệ Tài nguyên thiên nhiên, một cơ quan hàng đầu của Mỹ, nói “Nhiều loại thuốc trừ sâu được chứng minh qua thí nghiệm trên động vật là có gây ra ung thư vẫn đang được sử dụng”. Tất nhiên là không ai quan tâm đến một nửa số hóa chất tự nhiên mà qua các thí nghiệm trên động vật cho thấy chúng có thể gây ra ung thư. Tương tự, Nhóm Công tác về Môi trường (EWG), một cơ quan nằm ở Tủ đô Washington D.C, cũng nói trên trang web của mình rằng “giới khoa học ngày càng thống nhất rằng những lượng nhỏ thuốc trừ sâu và hóa chất có thể ảnh hưởng bất lợi đối với con người, nhất là trong những giai đoạn dễ bị ảnh hưởng như giai đoạn phát triển bào thai hay giai đoạn đang phát triển vì việc tiếp xúc có thể có những tác động lâu dài”. Đúng là các nhà khoa học thống nhất rằng hóa chất có thế gây hại và không ai định nghĩa thế nào là “lượng nhỏ” nên xét theo nghĩa hẹp thì tuyên bố này không sai. Nhưng EWG đã lên án khá nhiều – và luôn với một giọng điệu cảnh báo – thực tế là có một lượng hóa chất như vậy tồn tại trong người chúng ta và vì vậy dễ khiến mọi người đưa ra kết luận rằng có “một sự đồng thuận ngày một lớn trong giới khoa học” rằng lượng nhỏ hóa chất này trong cơ thể chúng ta “có thể gây ảnh hưởng bất lợi cho con người”. Như thế lại không đúng.

Cũng một bài viết trên trang web của Viện Theo dõi Toàn cầu cảnh báo độc giả rằng “450 kg thuốc trừ sâu mà các nông dân ở Mỹ sử dụng mỗi năm đang gây ô nhiễm cho gần như mọi con sông dòng suối ở nước này và cả tôm cá sống trong đó, trong đó có cả những hóa chất gây ung thư và dị tật bẩm sinh”. Điều đó không được đề cập đến là theo nhiều nhà khoa học thì mức độ ô nhiễm ở hầu hết mọi nơi thực ra đều còn rất thấp để có thể gây hại cho con người, vì thế mà nước Mỹ mới chưa bị gia tăng ồ ạt các ca ung thư và dị tật bẩm sinh mặc dù bị ô nhiễm nặng như vậy.

Nhưng nếu vậy thì sự tồn tại của một “dịch bệnh ung thư” thường được các nhà bảo vệ môi trường coi là một sự thật hiển nhiên đến mức không cần phải nêu lên sự tồn tại của nó. Trong một chuyên mục trên báo năm 2005, David Suzuki, nhà sinh học và bảo vệ môi trường nổi tiếng của Canada, đã coi sự ô nhiễm hóa chất là nguyên nhân gây ra “dịch bệnh ung thư làm chúng ta phải khổ sở”. Ông lấy bằng chứng từ một câu chuyện bắt một con cá bơn có các khối ung thư và thực tế là “lần đầu tiên trong năm nay, ung thư vượt qua bệnh tim trở thành thủ phạm giết người hàng đầu”. Nhưng điều này không đúng, như Suzuki muốn thừa nhận, việc ung thư trở thành tên giết người hàng đầu không phải là vì nó đang giết chết nhiều người mà có thể là ngày càng có ít người chết vì bệnh tim hơn. Và đây đúng là lời giải thích đúng đắn. Cơq uan Thống kê Canada cho biết tỉ lệ người chết vì bệnh tim và bệnh ung thư đang giảm đi nhưng “nhiều hơn ở bệnh tim”.

Liên minh Phòng chống Ung thư (CPC), một nhóm các nhà hoạt động do Sam Epstein đứgn đầu đã tỏ ra nỗ lực kiên quyết hơn trong một thông cáo báo chí năm 2007 “Ung thư đang phát triển thành dịch bệnh đánh vào mọi gia đình ở Mỹ”. “Ung thư hiện ảnh hưởng đến 1,3 triệu gia đình ở Mỹ mỗi năm và làm chết 550.000 người; 44% nam giới và 39% phụ nữ trước sau cũng sẽ bị ung thư. Trong khi các căn bệnh ung thư liên quan đến thuốc lá ở nam giới đang giảm, số người lớn bị các bệnh ung thư không liên quan đến thuốc lá cũng như số trẻ bị ung thư đang tăng mạnh. Ở một chỗ khác CPC còn tô đậm “Ung thư đang ảnh hưởng đến gần 1/2 số nam giới và hơn 1/3 số phụ nữ”.

Điều còn thiếu ở đây là ung thư về cơ bản là căn bệnh do tuổi tác, một yếu tố tác động sâu sắc đến các số liệu về ung thư. Chẳng hạn, tỉ lệ người chết vì ung thư ở Florida cao hơn ở Alaska gần 3 lần, có vẻ thật đáng kể nếu bạn không biết một điều rằng dân số ở Florida già hơn ở Alaska rất nhiều. Một báo cáo của Hiệp hội Ung thư Mỹ cho biết “Khi điều chỉnh các tỉ lệ người chết vì ung thư theo yếu tố tuổi tác thì các tỉ lệ này gần như là bằng nhau”.

Các số liệu về nguy cơ tính đến suốt đời – kiểu như “một trong hai nam giới” hay cụm từ “cứ một trong bốn” nổi tiếng của Rachel Carson – đã bỏ qua vai trò của tuổi tác và không tính đến việc tuổi thọ của chúng ta đang dần kéo dài. Để hiểu rõ điều này, hãy xem ai cũng sống đến 100 tuổi thì nguy cơ bị ung thư vào một lúcnào đó trong đời gần như là 100%. Liệu như thế thì chúng ta có thể hốt hoảng mà nói rằng “ung thư sẽ đánh vào gần như tất cả mọi người?” Có lẽ là không. Tôi cho rằng chúng ta sẽ coi đó là một lý do để ăn mừng. Ngược lại, nếu một vài dịch bệnh mới khiến tất cả chúng ta chết khi mới 35 tuổi, nguy cơ bị ung thư sẽ giảm đi rất nhiều nhưng sẽ chẳng có ai nhảy múa trên đường phố nữa.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Dan Gardner – Nguy cơ, khoa học & chính trị về nỗi sợ hãi – NXB LĐXH 2008.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s