2/ Tranh luận về mục tiêu hợp tác an ninh

Hiện nay nghiên cứu của các học giả trong nước về phương diện này khá nhiều, mỗi học giả lại có lập trường nghiên cứu và cách thức trình bày khác nhau, về mặt tổng thể có thể chia thành phái lý tưởng và phái hiện thực. Trong số các học giả theo phái lý tưởng, Đoàn Hà và Khương Kiến Tân cho rằng, sự hình thành cục diện an ninh chung khu vực Đông Á là một quá trình cơ chế hóa phức tạp và đồng thuận lợi ích một cách khó khăn, có thể lấy sự liên hợp của tiêu khu vực ASEAN với điều kiện tương đối chín muồi làm hạt nhân để thiết lập sự ràng buộc mang tính cơ chế; giữa các thực thể khác tham gia vào thế cộng đồng với nhiều cấp độ, chia làm 3 giai đoạn thông qua các bước như đối thoại – hiệp thương – xây dựng lòng tin – hình thành hiệp ước… Dương Lỗ Huệ và Quách Diên Quân cho rằng, Cộng đồng an ninh đang được coi là một mô hình mới trong hợp tác an ninh được từng bước đưa vào tầm ngắm của các nước Đông Bắc Á, nó có thể bù đắp những thiếu sót của cơ cấu ổn định bá quyền, đồng thời phát huy vai trò và ảnh hưởng quan trong chiến lược an ninh Đông Bắc Á. Học giả Vương Phàm cho rằng việc tìm kiếm mô hình an ninh mới lấy Diễn đàn khu vực ASEAN và thực tiễn an ninh hợp tác Đông Bắc Á làm hình thức chủ yếu đã thể hiện rõ sức sống và triển vọng phát triển mạnh mẽ, biện pháp xây dựng và phát triển an ninh và lòng tin là mấu chốt trong hợp tác an ninh khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Học giả Lý Khai Thịnh và Nhan Lâm lại cho rằng hiện nay sự lựa chọn biện pháp chủ yếu để bảo vệ an ninh Đông Á phải là xây dựng cơ chế an ninh tương quan chứ không phải là cộng đồng an ninh, chỉ có thông qua cơ chế này để giảm bớt thậm chí loại trừ tình hình nội bộ các nước Đông Á coi nhau là mối đe dọa chủ yếu thì việc thành lập Cộng đồng an ninh Đông Á mới khả thi.

So với phái lý tưởng lấy Cộng đồng an ninh làm phương hướng nghiên cứu, phái hiện thực nhấn mạnh nhiều hơn đến điều kiện thực hiện và vấn đề cụ thể trong cơ chế hợp tác an ninh đa phương. Chẳng hạn, tác giả từng đề xuất một cơ chế hợp tác an ninh đa phương thành công cần có đồng thời 4 điều kiện: một là lấy thực lực quân sự làm nền tảng; hai là thành viên ban đầu không nhiều nhưng có tính đại diện rộng rãi; ba là có tính đại diện lợi ích đầy đủ, lại có giới hạn quy mô rõ ràng; bốn là chủ đề có giới hạn chặt chẽ, không dễ dàng mở rộng lĩnh vực hợp tác. Hơn nữa cơ chế hợp tác an ninh “Trung – Mỹ – Nga + ASEAN” có thể là ý tưởng phù hợp với 4 điều kiện này nhất. Ngoài ra, học giả Vương Tuấn Sinh cũng cho rằng các nước Đông Bắc Á cần phải thay đổi quan niệm, từ tập trung vào trong các tranh luận xây dựng cơ chế thiết thực chuyển sang tập trung vào việc xây dựng các chủ đề cụ thể, ông còn đặc biệt nhấn mạnh chủ đề năng lượng là có giá trị quan trọng.

Nhận thức chung lớn nhất trong các nghiên cứu này là ở việc cho rằng phương thức hợp tác an ninh tồn tại hiện nay còn thiếu sót, cần phải tiến hành cải cách và vượt qua những thiếu sót này, nhưng đối với phương pháp cụ thể lại có quan điểm khác nhau. Các học giả theo phái lý tưởng nghiêng về việc lấy Cộng đồng an ninh làm mục tiêu và phương hướng trong hợp tác an ninh Đông Á, như Đoàn Hà và Khương Kiến Tân cho rằng Cộng đồng an ninh ASEAN là phôi thai của Cộng đồng an ninh Đông Á, “thai nghén nguyên tắc hợp tác, mô hình tổ chức và cơ chế phụ thuộc của Cộng đồng an ninh Đông Á”, thông qua sự phát triển của 3 giai đoạn sẽ xã hội hóa địa vị quốc gia đồng thời cơ chế hóa việc ràng buộc hành vi quốc gia, tiến tới thành lập Cộng đồng an ninh Đông Á. Lý Khai Thịnh và Nhan Lâm đã tập trung phân tích khả năng xây dựng Cộng đồng an ninh Đông Á, đồng thời đề xuất xây dựng cơ chế an ninh là điều kiện tiền đề để thành lập Cộng đồng an ninh. Học giả Dương Lỗ Huệ và Quách Diên Quân lại thông qua việc so sánh ưu khuyết điểm của “ổn định bá quyền” và “Cộng đồng an ninh”, có thể dễ dàng nêu lên tính ưu việt của việc thay thế “ổn định bá quyền của Mỹ” bằng “Cộng đồng an ninh”. Nhưng tác giả đồng thời cũng chỉ rõ việc xây dựng “Cộng đồng an ninh” không dễ dàng, trái lại sẽ là một quá trình đầy khó khăn, hợp tác an ninh là cầu nói với “Cộng đồng an ninh”. Còn các học giả của phái hiện thực lại chủ trương từ bỏ cơ chế hiện có, lấy điều hòa nước lớn làm cơ sở để tạo dựng lại cơ cấu hợp tác an ninh Đông Á.

Những nghiên cứu nói trên đều tồn tại khuynh hướng lý tưởng hóa. Như học giả Vương Phàm cho rằng tư tưởng trung dung của Khổng Tử có thể phát huy vai trò dẫn dắt to lớn đối với việc hình thành ý thức Cộng đồng châu Á. Nhưng quan điểm này chỉ là giả thiết về mặt lý luận, vừa thiếu phương pháp chứng minh thực tế vừa không có chuỗi lôgích rõ ràng. Mặt khác, phương pháp nghiên cứu này thường coi nhẹ tầm quan trọng của những biến số về hợp tác/điều hòa giữa các nước lớn trong hợp tác an ninh khu vực, như học giả Đoàn Hà và Khương Kiến Tân gởi gắm việc xây dựng Cộng đồng an ninh Đông Á vào tính chủ động của ASEAN, mà không nghĩ đến địa vị và vai trò của nước lớn về chính trị, quân sự. Ngoài ra, loại nghiên cứu này phần nhiều né tránh nội dung/yếu tố cụ thể của cơ chế hóa, vì vậy thường mang đến cho độc giả một cảm giác trống rỗng. Chẳng hạn, chủ trương dùng cơ chế “Trung – Mỹ – Nga + ASEAN” để thay thế cơ chế hợp tác an ninh hiện có mà tác giả từng đưa ra là một ý tưởng mà về cơ chế xuất phát từ lý luận, nhưng muốn thực hiện là điều rất khó khăn.

II/ Vấn đề phải đối mặt trong chính sách an ninh Đông Á của Trung Quốc

Kể từ khi cải cách mở cửa năm 1978 đến nay, Trung Quốc luôn thực thi chính sách ngoại giao “giấu mình chờ thời” và không kết đồng minh. 30 năm qua, chính sách “giấu mình chờ thời” đã tạo ra một môi trường quốc tế tương đối tốt cho sự phát triển hòa bình của Trung Quốc. Nhưng vấn đề lớn nhất mà chính sách này hiện nay gặp phải là do không thể giải thích được tại sao một số nước láng giềng xung quanh lại gia tăng lo ngại đối với Trung Quốc. Nếu nói sự lo ngại này bắt nguồn từ sự trỗi dậy nhanh chóng của Trung Quốc, vậy thì xét về lý Trung Quốc cần phải tăng cường chính sách “giấu mình chờ thời” hơn so với trước đây, chẳng hạn đưa ra nhượng bộ nhiều hơn hoặc giữ kiềm chế lớn hơn trong tranh chấp biển, trong hợp tác kinh tế nhường nhịn lợi ích nhiều hơn, nhưng rõ ràng Trung Quốc không thể hoàn toàn đáp ứng được đòi hỏi của đối phương. Trung Quốc cũng có thể cung cấp sự bđảm bảo an ninh cho các nước trong khu vực để làm giảm sự lo ngại của họ, nhưng do Trung Quốc kiên trì chính sách không kết đồng minh, việc cung cấp đảm bảo an ninh cho những nước này cũng không hiện thực. Trong khi đó, Mỹ lại thực thi chính sách trở lại châu Á – Thái Bình Dương và tái cân bằng, có thể đáp ứng được nhu cầu khách quan tìm kiếm sự bảo hộ an ninh của nhiều nước vừa và nhỏ trong khu vực châu Á – Thái BÌnh Dương. Việc hai bên hòa hợp với nhau khiến cho các đồng minh châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ có xu thế ngày càng đi sâu và mở rộng, làm cho khu vực này hình thành cục diện Trung Quốc lấy sức mạnh của một nước đối mặt với sức ép an ninh của Mỹ và các đồng minh của Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương.

Từ giai đoạn giữa thập niên 90 của thế kỷ 20, Trung Quốc tích cực tham gia xây dựng các cơ chế hợp tác an ninh đa phương Đông Á do ASEAN chủ đạo. Chính sách lúc đó từng phát huy tác dụng tăng lòng tin, xóa bỏ hoài nghi này, đã giành được hiệu quả nhất định. Nhưng từ đầu thế kỷ 21 đến nay, cơ chế hợp tác an ninh đa phương Đông Á dần dần rơi vào nhiều tình cảnh khó khăn, hoặc là gần như mất hiệu lực, hoặc là kết thúc vì không có hiệu quả, hoặc là rơi vào cảnh “chỉ là nơi bàn suông”. Tác giả từng chỉ ra, vấn đề này là do ASEAN thiếu khả năng lãnh đạo đầy đủ, còn các nước lớn quân sự trong khu vực lại không thể hợp tác với nhau để gánh vác trách nhiệm lãnh đạo, dẫn đến các cơ chế đều thiếu tính quyền uy, từ đó mất đi năng lực hành vi. Có hai biện pháp để giải quyết vấn đề này: Một là cải cách cơ chế vốn có, hai là xây dựng cơ chế hợp tác an ninh mới. Nhưng tác giả cho rằng hai phương thức này đều tồn tại khó khăn khó có thể khắc phục.

Khó khăn lớn nhất để cải cách cơ chế vốn có là ở chỗ liệu có thể kiên trì tính trung tâm của ASEAN. Kiên trì tính trung tâm của ASEAN chính là kiên trì dùng “phương thức ASEAN” để phát triển cơ chế hợp tác an ninh đa phương. “Phương thức ASEAN” chính là nguyên tắc nhấn mạnh các nước thành viên triển khai hợp tác thông qua phương thức đối thoại hiệp thương, kiên trì từng bước, chủ nghĩa thực dụng và đồng lòng nhất trí, không sử dụng vũ lực để xử lý xung đột và tranh chấp khu vực giữa các nước thành viên, không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước thành viên, xử lý các vấn đề nội bộ và khu vực một cách đồng lòng nhất trí… Hiện nay, Diễn đàn khu vực ASEAN và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng là các cơ chế hợp tác an ninh đa phương điển hình được triển khai bằng “phương thức ASEAN”, nhưng vấn đề lớn nhất của các cơ chế này là không thể thực hiện được nghị quyết và nhận thức chung quan trọng. Chẳng hạn như Diễn đàn khu vực ASEAN. Cơ chế này đã xác định phương hướng phát triển “3 giai đoạn” vào năm 1995: Giai đoạn thứ nhất là biện pháp xây dựng lòng tin, giai đoạn thứ hai là triển khai ngoại giao mang tính phòng ngừa, giai đoạn thứ ba là quản lý xung đột. Diễn đàn khu vực ASEAN đã đạt được thành tích khá lớn trong phương diện xây dựng biện pháp lòng tin, cùng triển khai và thực thi 51 hạng mục xây dựng biện pháp lòng tin. Tuy nhiên, các diễn đàn khu vực ASEAN về sau giậm chân tại chỗ một thời gian dài ở giai đoạn xây dựng biện pháp lòng tin, không biết lúc nào mới quá độ sang giai đoạn ngoại giao mang tính phòng ngừa, bởi vì các nước thành viên của diễn đàn không thể đạt dược ý kiến nhất trí về vấn đề ngoại giao mang tính phòng ngừa, mà phương thức ASEAN lại yêu cầu sau khi tất cả các nước thành viên nhất trí đồng ý mới có thể thực hiện quá độ giữa các giai đoạn. Ngoài ra, diễn đàn khu vực ASEAN đối với bất kỳ vấn đề an ninh khu vực nào cũng đều chỉ giới hạn ở thảo luận, mà không áp dụng biện pháp đối phó. Chẳng hạn, năm 1998 sau khi Ấn Độ và Pakistan lần lượt tiến hành thử hạt nhân, tuyên bố của Chủ tịch diễn đàn chỉ bày tỏ sự quan ngại sâu sắc và lấy làm tiếc về việc thử hạt nhân của Nam Á. Cũng như năm 2001, sau khi Trung Quốc và Mỹ xảy ra sự kiện va chạm máy bay, diễn đàn không áp dụng bất kỳ hành động ngoại giao nào đối với sự kiện này.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí Châu Á – Thái Bình Dương đương đại (TQ) – số 01/2014

CVĐQT – số 11/2014

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s