Anthony Lake

Tôi muốn nói về mối quan hệ giữa sức mạnh và chính sách ngoại giao – đặc biệt giữa sức mạnh của Mỹ và chính sách ngoại giao của Mỹ – trong một thế giới đã và đang biến đổi mạnh mẽ.

Đây là thời điểm đặc biệt trong quan hệ quốc tế. Mối đe dọa duy nhất và bao trùm của cuộc Chiến tranh lạnh đã không còn nữa. Môi trường quốc tế đã hoàn toàn mới – khác xa so với môi trường chiến lược cũ, trong mọi biến động đều được giải thích trong mối liên hệ với sự đe dọa từ Liên Xô.

Nhưng ngay cả trong thời đại mới này cũng có một số sự thật cũ.

Thứ nhất là những sự bất đồng và tranh luận có từ khi nền Cộng hòa củ chúng ta ra đời về vai trò của chúng ta trên thế giới. Một bên thì ủng hộ những hình thức hạn chế nghiêm ngặt việc bảo hộ và tham gia vào các hoạt động ở nước ngoài; Một bên thì tán thành việc Mỹ cần tham gia tích cực ra ngoài nhân danh nền dân chủ và nhân danh nền mậu dịch mở rộng.

Sau Chiến tranh thế giới thứ II, chủ yếu có mối đe dọa từ phía Liên Xô, nên những tranh cãi này đã được giải quyết theo hướng thuận cho việc tham gia tích cực ra bên ngoài. Ngày nay, cũng giống như vào cuối những năm 40, chúng ta lại phải đương đầu với sự thôi thúc phải tự kiềm chế. Và ngày nay, cũng giống như vào cuối những năm 40, những lợi ích của chúng ta lại đòi hỏi chúng ta phải kiểm tra sự thôi thúc đó. Nhưng nhiệm vụ của chúng ta bây giờ khó khăn hơn nhiều, vì chúng ta phải thực thi nhiệm vụ đó trong những hoàn cảnh không phải vào cuối những năm 40 mà là vào những năm 20: hiện nay cũng như vào những năm 20 hầu hết xã hội chúng ta đều muốn đứng ngoài những hoàn cảnh khó khăn của hoạt động quốc tế và hiện nay không hề có một mối đe dọa nào để dựa vào đó mà tập hợp được dư luận.

Sự thực thứ hai là vấn đề các quan niệm. Chúng ta đang phải dính líu vào hầu hết các cuộc đấu tranh hàng ngày mà chúng ta chứng kiến trên khắp thế giới. Như tổng thống Clinton đã nói: “Chúng ta luôn phải đương đầu với cuộc đấu tranh trong suốt lịch sử tồn tại của mình – cuộc đấu tranh giữa tự do và chuyên chế, giữa lòng khoan dung và sự cô lập. Đó là cuộc đấu tranh giữa những người sẽ xây dựng nên các xã hội tự do do pháp luật chi phối và những người sẽ dùng sức mạnh để áp đặt ý chí của mình lên xã hội. Cuộc đấu tranh của chúng ta ngày nay, trong một thế giới có kỹ thuật cao hơn, đang tiến bộ nhanh hơn, và đa dạng hơn bao giờ hết, là một cuộc đấu tranh lâu đời giữa niềm hy vọng và nỗi sợ hãi”.

Điều này lại đưa tôi đến với một sự thực cũ thứ ba trong kỷ nguyên mới này: sức mạnh vẫn còn rất quan trọng. Chúng ta không phải sen đầm thế giới. Nhưng trong cuộc đấu tranh giữa niềm hy vọng và nỗi sợ hãi này, sức mạnh của chúng ta sẽ tạo ra sự khác nhau đáng kể, giống như đã xảy ra trong hai cuộc chiến tranh thế giới và cuộc chiến tranh lạnh. Và cối lõi của quyền lực của Mỹ là sự đe dọa hoặc việc sử dụng sức mạnh quân sự. Nếu không sử dụng sức mạnh quân sự, thì ngay nay Haiti đã không có một cơ hội dân chủ khó khăn nhưng hết sức lý thú. Và nếu không sử dụng sức mạnh quân sự, thì ngày nay Iraq sẽ đe dọa các nước láng giềng của mình bằng việc triển khai quân sự nguy hiểm trên các vùng biên giới Kuwait. Tóm lại, chính sách ngoại giao không gắn với sức mạnh thuờgn sẽ thất bại. Đồng thời, sức mạnh mà không có ngoại giao thì sẽ thiếu định hướng một cách nguy hiểm.

Tôi biết, đây không phải là một suy nghĩ viển vông. Ngày xưa, Thucydides trong cuộc đối thoại với người Melian, đã vạch ra một cách khủng khiếp, sinh động điểm yếu của ngoại giao mà không có sự hậu thuẫn của sức mạnh. Những lập luận rỗng tuếch của những người Melian về việc giữ gìn nền độc lập của mình đã hoàn toàn không thể chống lại được ý đồ nô dịch của người Athen. Không có sức mạnh hậu thuẫn cho các lập trường của mình, những người đàn ông xứ Melo đã bị giết; phụ nữ và trẻ em bị bán làm nô lệ.

Cũng như lập lậun này, nhiều thế kỷ sau ở châu Âu vào cuối những năm 1930, đã được Hitler và chính sách của ông ta giải quyết bằng xe thiết giáp, và ở Thái Bình Dương bằng trận Trân Châu Cảng. Sau cuộc Chiến tranh thế giới thứ II, các chính khách nhìn xa trông rộng như Dean Acheson đã tìm cách làm cho người Mỹ ghi nhớ lấy bài học đó. Acheson và các nhà thông thái khác đã biết rằng Mỹ cần có tất cả các công cụ ngoại giao và sức mạnh để bảo vệ những lợi ích sống còn và chiếm ưu thế lâu dài trong cuộc Chiến tranh Lạnh. Chính Acheson đã đưa ra câu nói, “cần phải thương lượng trên thế mạnh”.

Đương nhiên, ngày nay, nền ngoại giao của Mỹ đã rút ra được sức mạnh đáng kể từ sức mạnh kinh tế của nó và sức mạnh nêu gương của chúng ta. Sức mạnh kinh tế toàn cầu của chúng ta không những làm cho tiếng nói của Mỹ trở thành tiếng nói quan trọng về hầu hết mọi vấn đề toàn cầu mà chúng ta có thể nghĩ đến. Nền kinh tế toàn cầu mới có thể cũng đang gây ra một cuộc cách mạng nhỏ trong tính chất ngoại giao. Vì nền kinh tế của mọi quốc gia đều ngày càng phụ thuộc vào một thị trường thống nhất, nên hầu hết các nền kinh tế cũng đều đang trở nên dễ tổn thương hơn trước những ảnh hưởng của sự cô lập về kinh tế.

Điều này có nghĩa là có thể vừa dễ bị kích thích về mặt kinh tế hơn lại vừa dễ bị trừng phạt về mặt kinh tế hơn. Nam Phi là một thí dụ tuyệt vời về điều này. Và chúng ta vừa chứng kiến việc cả những kích thích lẫn những đòn trừng phạt có thể hiệu quả tới mức nào trong các cuộc thương lượng của chúng ta với Bắc Triều Tiên về chương trình vũ khí hạt nhân của họ. Đương nhiên, chúng ta hoan nghênh tất cả các quyết định của Bắc Triều Tiên đã dẫn đến những hiệp định mà chúng ta đã ký kết. Tôi nghĩ đó là một công việc thật kinh khủng. Hiệp định này vừa vì lợi ích của họ lại vừa vì lợi ích của chúng ta, vì nó có thể giúp chấm dứt sự cô lập về kinh tế và chính trị của họ. Nhưng hoàn toàn không có gì bất ngờ trước việc các cuộc đối thoại đã thực sự đạt được tiến bộ vào mùa hè vừa qua khi mọi việc đã trở nên rõ ràng là chúng ta sắp sửa trình cho Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc một nghị quyết thi hành các biện pháp trừng phạt.

Chúng ta cũng đã chứng kiến sức mạnh của các biện pháp trừng phạt trong trường hợp và thái độ của Serbia. Thật vậy, bạn có thể kẻ một đường thẳng trực tiếp từ những tác động mạnh mẽ của việc cô lập nền kinh tế Serbia đến chính sách đang tiến triển của ông Slobodan Milosevic.

Nhưng cốt lõi của sức mạnh của Mỹ chính là sức mạnh quân sự. Đó chính là lý do vì sao Tổng thống Clinton đã thề rằng các lực lượng vũ trang của chúng ta sẽ vẫn là lực lượng quân sự được đào tạo tốt nhất, được trang bị tốt nhất và được chuẩn bị tốt nhất thế giới. Tôi nói “vẫn” tốt nhất vì cách lực lượng quân đội của chúng ta tiến hành nhanh và có hiệu quả các hoạt động gần đây của chúng ta ở vùng Vịnh và ở Haiti có thể làm cho mọi người tin tưởng hoàn toàn vào khả năng sẵn sàng và sức mạnh hiện tại của họ.

Sự chỉ trích của những người hoài nghi đối với khả năng sẵn sàng của chúng ta là hoàn toàn sai: chúng ta đã triển khai trước các lực lượng vũ trang ở các điểm nóng như Vịnh Persian, đã mở rộng khả năng vận chuyển bằng cầu hàng không và đường biển của chúng ta, và đã tăng kinh phí cấp cho các cuộc hành quân và việc duy trì trong năm tài chính 1995 trên 5%. Thật vậy đã có những lo ngại về tính sẵn sàng và khả năng cơ động của chúng ta trong tương lai mà chúng ta sẽ cần phải lưu ý, song việc chúng ta triển khai quân nhanh chóng và có hiệu quả ở Haiti và Iraq đã khẳng định được lòng tin của chúng ta: chúng ta vẫn sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng gần như đồng thời hai cuộc xung đột khu vực lớn.

(còn tiếp) 

Người dịch: Lưu Ngọc Trịnh

Nguồn: Anthony Lake – American power and American diplomacy – Fletcher Forum of World Affairs, 1995, vv.19. No2, p 87 – 94

TĐB 96 – 07

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s