Trong những năm 1990, khi những nỗi lo về căn bệnh ung thư vú tăng lên thì các nhà hoạt động thường nói “một trong tám” phụ nữ ở Mỹ sẽ có lúc bị ung thư vú. Điều đó không sai xét về mặt nào đó. Nhưng họ lại không nói rằng để chắc chắn gặp nguy cơ 1/8 đó thì người phụ nữ phải sống đến 95 tuổi. Ở các lứa tuổi thấp hơn thì con số rất khác nhau: ở người 70 tuổi khả năng đó là 1/14 (tức là 7%); ở tuổi 50 là 1/50 (tức 2%); ở tuổi 40 là 1/217 (tức 0,4%); ở tuổi 30 là 1/2525 (0,03%) Russell Harris, một nhà nghiên cứu ung thư ở Đại học South Carolina nói với tờ U.S. News and World Report rằng “Nhấn mạnh nguy cơ cao nhất chỉ là một thủ thuật gây sợ hãi nhiều hơn là thông tin”.

Tuy nhiên, sự già hóa dân số không thể ảnh hưởng đến các số liệu về các ca ung thư và trẻ em, và khiến cho những ai coi ô nhiễm hóa chất là một mối nguy hại nghiêm trọng có thể nói rằng số trẻ em bị ung thư đang tăng vọt. Nhà báo Wendy Mesley nói trong một bộ phim tài liệu của CBC rằng chúng đang tăng “25% trong 30 năm”. Số liệu này về một mức độ nào đó là đúng nhưng nó cũng là một ví dụ kinh điển cho thấy thông tin về các nguy cơ có thể bị phản ánh sai lệch đến thế nào.

Measley nói đúng rằng tỷ lệ ung thư của trẻ em Canada cao hơn 30 năm trước đây khoảng 25%. Nhưng cô lại không nói là sự gia tăng này chỉ diễn ra từ năm 1970 đến năm 1985 rồi dừng lại. Báo cáo tình hình kiểm soát ung thư 2004 của Cơ quan Y tế Cộng đồng Canada cho biết “Số trường hợp ung thư trẻ em vẫn khá ổn định kể từ 1985”.

Cũng không đúng nếu chỉ đế ý đến sự gia tăng nguy cơ tương đối – 25% – nhưng lại không nói về quy mô thực sự của nguy cơ này. Năm 1970, cứ 100.000 trẻ em thì có hơn 13 trường hợp ung thư, rồi tỷ lệ này tăng lên mức cao nhất là 16,8 trường hợp – tức là nguy cơ trẻ em bị mắc ung thư hàng năm là 0,0168%. Tổng hợp các thông tin này lại thì sẽ phải là như sau: Năm 1970, nguy cơ trẻ bị ung thư rất nhỏ và tăng lên cho đến năm 1985 và vẫn ở mức ổn định kể từ đó. Mặc dù có tăng nhưng nguy cơ vẫn là rất nhỏ. Báo cáo trên cho biết “Ung thư trẻ em là rất hiếm gặp, chỉ chiếm khoảng 1% số trường hợp ung thư”. Nếu thế thì không thể là một bệnh dịch được. Hơn nữa, tỉ lệ trẻ em chết vì ung thư đã giảm dần trong suốt ba thập kỷ qua. Năm 1970 có khoảng 7/100.000 trẻ chết bởi ung thư: 30 năm sau, tỉ lệ này đã giảm xuống còn 3.

Mỹ cũng có các số liệu gần tương tự. Theo một tài liệu công bố năm 1999 của Viện Ung thư Quốc gia Mỹ, số ca ung thư trẻ em đã tăng từ năm 1975 đến năm 1991 rồi giảm nhẹ. Năm 1975, cứ trong 100.000 trẻ em thì có khoảng 13 trẻ bị ung thư. Năm 1990, tỉ lệ này tăng lên 16. Còn tỷ lệ tử vong ở trẻ em lại giảm dần, từ 5/100.000 năm 1975 xuống 2,6/100.000 hai thập kỷ sau đó.

Các số liệu của Anh cũng cho thấy tình hình tương tự. Từ năm 1962 đến năm 1971, tỉ lệ trẻ bị ung thư vẫn giữ nguyên rồi tăng từ từ cho đến năm 1995 nhưng có vẻ như đã ổn định trở lại. Năm 1971, cứ 100.000 trẻ thì có 10,1 trường hợp ung thư. Năm 1995 tỉ lệ này là 13,6. Tỉ lệ tử vong cũng giảm dần trong giai đoạn này, từ 7,8/100.000 xuống còn 3.2/100.000. Rõ ràng hệ thống chăm sóc y tế đã góp phần cải thiện tình hình này.

Tuy nhiên, nguy cơ trẻ em bị ung thư lẽ ra có thể không còn tăng nữa song thực tế nó vẫn gia tăng. Liệu cái gì có thể gây ra sự gia tăng đó ngoài ô nhiễm hóa chất? Ở đây cũng cần nhớ rằng các con số chỉ có ý nghĩa khi đi cùng với phương pháp tính toán ra chúng. Tất cả các con số đều có điểm mạnh và điểm yếu. Các số liệu về ung thư chính là một ví dụ hoàn hảo cho chân lý phổ quát đó.

Có hai cách để đánh giá mức độ ung thư trong một cộng đồng. Cách thứ nhất là chỉ cần cộng lại số những người chết do ung thư. Hầu hết những trường hợp tử vong đó đều không thể nhầm lẫn và được theo dõi cẩn thận khiến cho các số liệu khai tử là một cách đáng tin cậy để theo dõi mức độ tràn lan của bệnh ung thư. Hay ít nhất đã từng như vậy. Khả năng chữa trị đã cải thiện đáng kể trong mấy thập kỷ gần đây và vì vậy ngày càng có nhiều nạn nhân nếu trước đây đã không thể sống sót giờ lại có thể qua khỏi. Do đó mà tỉ lệ người chết vì ung thư có thể suy giảm kể cả khi tỉ lệ người bị ung thu không giảm và vì vậy mà các số liệu về số người chết thường đánh giá thấp hơn thực tế.

Cách theo dõi tình hình ung thư thứ hai là sử dụng cái gọi là tỉ lệ số trường hợp. Tỷ lệ này dựa trên số người bị phát hiện ung thư và có vẻ như sẽ phản ánh chính xác hơn mức độ ung thư trong một cộng đồng. Nhưng nó cũng rất bấp bênh. Nếu các bác sĩ có thể phát hiện ung thư chuẩn xác hơn thì tỉ lệ số trường hợp sẽ tăng cho dù thực tế là mức độ phổ biến ung thư không gia tăng. Thậm chí là sự thay đổi cách xử lý hồ sơ giấy tờ và tập hợp số liệu của giới quan liêu hành chính cũng có thể đẩy số trường hợp lên một cách nhân tạo. Tuy nhiên, chính những chương trình kiểm tra xét nghiệm mới ảnh hưởng nhiều đến các con số. Nhiều dạng bệnh ung thư, trong đó có ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư tuyến giáp và ung thư da, được coi là những dạng ung thư chỉ để đấy. Chúng không gây ra tác hại, không tiến triển và không gây ra bất kỳ triệu chứng nào. Những người mắc chúng có thể sống đến hết đời mà không biết về sự tồn tại của chúng. Nhưng các chương trình kiểm tra, như xét nghiệm máu đối với ung thư tuyến tiền liệt hay chụp X-quang ngực đối với ung thư vú, có thể phát hiện được cả u lành và u ác tính và vì vậy khi chúng được đưa vào sử dụng hoặc được nâng cấp thì tỉ lệ số trường hợp sẽ tăng vọt. Khi đó thì không phải là nhiều người đang bị ung thư mà là ngày càng nhiều căn bệnh ung thư đang được phát hiện ra.

Vì vậy để hiểu thực sự điều gì đang diễn ra, các chuyên gia phải xem xét cả các số liệu về số người chết và số trường hợp ung thư. Nếu cả hai cùng tăng thì có lẽ là bệnh ung thư đang tăng. Chúng cũng là những chỉ số đáng tin cậy nếu cùng giảm xuống. Nhưng chúng lại thường đi theo hai hướng khác nhau – như với tình hình ung thư ở trẻ em trong những năm 1970 và 1980. Để nhìn nhận rõ khi nào điều này xảy ra, các chuyên gia phải xem xét từ mọi góc cạnh và xem xét sức nặng tương đối của nhiều nhân tố có thể đẩy các con số theo chiều hướng này hoặc chiều hướng khác. Và kể cả khi đó thì vẫn có thể có một số điều không chắc chắn, vì khoa học chỉ có thể làm được vậy.

Và kết luận đó dường như đã trả lời cho sự gia tăng số trẻ em ung thư vào giữa những năm 1980. Viện Nghiên cứu Ung thư của Anh cho biết “Những cải thiện về hiệu quả của hệ thống chẩn đoán và theo dõi về bệnh ung thư cũng góp phần làm gia tăng tỉ lệ số ca theo dõi”. “Việc chữa trị được tập trung hóa cũng có thể khiến cho việc theo dõi và ghi lại những chẩn đoán về các bệnh nhân mới trở nên dễ dàng hơn. Sự thay đổi thực sự (nếu có) về tỉ lệ số trường hợp quan trọng vẫn chưa thấy rõ.

Do những khác biệt về giới tính, dân cư và dân tộc nên rất khó nói khái quát về căn bệnh ung thư ở người lớn. Và quan trọng hơn, ung thư không thực sự là một mà là nhiều căn bệnh. Tuy nhiên, tình hình chung thì đã rõ.

Tỉ lệ số người chết do các dạng ung thư đã được điều chỉnh theo độ tuổi ở các nước phát triển đã giảm đi trong nhiều năm. (Một ngoại lệ quan trọng là số trường hợp ung thư liên quan đến thuốc lá trong số các nhóm người có tỉ lệ hút thuốc đang giảm đi). Tỷ lệ số trường hợp tăng lên trong những năm 1970, tăng nhanh hơn trong những năm 1980 rồi đều đều trong khoảng 10 – 15 năm qua. Không phải ngẫu nhiên mà giai đoạn chứng kiến sự gia tăng nhanh nhất – những năm 1980 – cũng là giai đoạn có khá nhiều chương trình kiểm tra mới được áp dụng. Các nhà nghiên cứu cũng thống nhất rằng sự gia tăng về tỉ lệ số trường hợp ung thư trong hơn ba thập kỷ qua chủ yếu là nhờ việc sàng lọc, chẩn đoán và thu thập số liệu tốt hơn.

Và dù thế nào thì sự gia tăng tỉ lệ số trường hợp nói chung là đã ngừng lại. Ở Mỹ, các con số trong mấy năm vừa qua – gồm cả tỉ lệ số trường hợp và số người chết – cũng rất đáng khích lệ. Thậm chí tổng số người chết do ung thư cũng đã giảm đi, thật lạ khi biết rằng dân số ở Mỹ đang gia tăng và đang già đi. Nói tóm lại, theo Bruce Ames. “Nếu bỏ qua những trường hợp ung thư do hút thuốc và những trường hợp ung thư khác do chúng ta đang sống lâu hơn thì bạn sẽ thấy ung thư không hề gia tăng”.

Những người ủng hộ lời khẳng định rằng hóa chất đang giết chết chúng ta chỉ phản ứng bằng một câu nói hài hước. Chúng tôi không biết, họ nói. Một báo cáo của tổ chức Hòa bình Xanh nói “Có một thực tế đáng lo ngại là không ai biết những hóa chất này có tác hại gì đối với con người”. Còn WWF thì nói “Tất cả chúng ta đều không có ý định tham gia vào một cuộc thí nghiệm tùy tiện trên toàn cầu nên nó cần phải được ngăn chặn”.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Dan Gardner – Nguy cơ, khoa học & chính trị về nỗi sợ hãi – NXB LĐXH 2008.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s