Giống như phần lớn các nhà quan sát châu Á người Mỹ, tôi không có chút manh mối nào về việc những thành tố cơ bản trong chính sách châu Á của Chính quyền Trump sắp tới sẽ là gì. Tôi đã rút ra được kinh nghiệm là phải “trừ hao” ít nhất một nửa điều được nói đến trong các chiến dịch tranh cử: Reagan sẽ công nhận Đài Loan; Carter sẽ rút binh lính Mỹ khỏi bán đảo Triều Tiên… Thách thức là nhận ra được nửa nào không nên tin.

Trong khi không biết chính sách châu Á của Trump sẽ thế nào, thì tôi có ý tưởng khá hay về việc nó nên như thế nào, vì vậy tôi tự ý đưa ra một số lời khuyên.

Chính sách xoay trụ sẽ chết, nhưng sự xoay trục còn sống mãi. “Xoay trục” hoặc “tái cân bằng” sang châu Á là khẩu hiệu của Obama, khẩu hiệu sẽ ra đi cùng với ông – điều có khả năng vẫn xảy ra như vậy ngay cả khi Clinton được bầu – nhưng việc Mỹ đặt trọng tâm vào châu Á coi đó như là một ưu tiên về an ninh quốc gia đã là điểm chung bất biến của 2 đảng kể từ sau khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt và vai trò trung tâm của hệ thống liên minh Mỹ ở châu Á (với Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines và Thái Lan) – như ở châu Âu (NATO) – cũng là điểm chung của 2 đảng kể từ những năm 1950. Giả định hiện tại dường như là Chính quyền Trump ít cam kết hơn đối với việc duy trì hệ thống liên minh như là một nhân tố cấu thành sống còn cho an ninh Mỹ (cũng như an ninh của các đồng minh). Nếu ông thực sự tin điều này, thì ông cần phải nói vậy và đề cập tới các lựa chọn thay thế và hậu quả. Điều ông cần làm là khẳng định lại vai trò trung tâm của cả châu Á lẫn hệ thống liên minh Mỹ đối với cam kết tiếp tục của Mỹ nhằm duy trì hòa bình và an ninh ở châu Á và xa hơn nữa. George H.W. Bush và Bill Clinton đã làm điều này bằng cách đưa ra các Báo cáo chiến lược Đông Á toàn diện; một báo cáo mới là hết sức cần thiết.

Không phổ biến hạt nhân vẫn phải là mục tiêu. Một điểm chung bất biến khác giữa 2 đảng trong chính sách đối ngoại của Mỹ là cam kết vững chắc của Mỹ đối với chính sách không phổ biến hạt nhân. Giả định ngầm là Chính quyền Trump không ngăn cản – thậm chí có lẽ còn khuyến khích – các đồng minh như Nhật Bản và Hàn Quốc tiến hành hạt nhân. Một lần nữa, nếu ông thực sự tin thế giới là nơi an toàn hơn và các lợi ích của Mỹ được phục vụ tốt nhất bằng việc có thêm nhiều nhà nước vũ khí hạt nhân ở châu Á, thì ông cần nói vậy. Điều ông cần nói là cam kết của Mỹ không phổ biến vũ khí vẫn mạnh mẽ và chiếc ô an ninh của nước này – hạt nhân và thông thường – cho bạn bè và đồng minh của Mỹ vẫn vững chắc. Quân đội Mỹ không phải là một lực lượng vụ lợi sẵn sàng chiến đấu cho bên trả giá cao nhất; Mỹ là một đối tác torng việc đảm bảo hòa bình và sự ổn định với những nước có chung các giá trị và mục tiêu an ninh dài hạn với Mỹ. Sự ủng hộ hiện nay của quốc gia chủ nhà Nhật Bản và Hàn Quốc cần phải được công nhận và đánh giá cao, chứ đừng hạ thấp.

Đối thoại về phi hạt nhân hóa vẫn là mục tiêu trên bán đảo Triều Tiên. Ở một thời điểm nào đó, ứng cử viên Trump nói rằng ông cởi mở với các cuộc thảo luận với nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un. Tương tự, Obama cũng từng cam kết “chìa tay ra với những ai nới lỏng nắm đấm của mình”, như chúng ta có thể gợi nhớ lại. Đối thoại với Bình Nhưỡng là rất cần thiết, nhưng Trump nên nói rõ rằng phi hạt nhân hóa vẫn cần đặt lên bàn thảo luận nếu mối quan hệ giữa Bình Nhưỡng và Washington cải thiện hơn bao giờ hết và rằng con đường tới Washington tiếp tục đi qua Seoul . Có thể hiểu được khi người Hàn Quốc bồn chồn lo lắng (đặc biệt là trong giai đoạn rối loạn chính trị nội bộ này); Tổng thống được bầu Trump cần trấn an đồng minh Hàn Quốc và thức tỉnh Triều Tiên trước bất kỳ ảo tưởng nào liên quan đến quan điểm của Washington về việc phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên.

Các cá nhân cũng quan trọng. Bên cạnh việc có được các chính sách đúng đắn, điều gần như quan trọng không kém là có đúng nhân lực để giải thích và thực hiện chúng. Người mà Tổng thống Trump lựa chọn làm ngoại trưởng sẽ gửi đi một thông điệp rõ ràng và quan trọng tới cả bạn bè lẫn đồng minh và đối thủ tiềm tàng của nước này. Một vài cái tên vốn đã xuất hiện trên báo chí. Đáp ứng được tiêu chuẩn nhất trong số họ là Thượng nghị sĩ Bob Corker (R-Tenn), Chủ tịch Ủy ban đối ngoại Thượng viện. Mặc dù ông Trump rõ ràng “mắc nợ cựu Chủ tịch Hạ viện Newt Gingrich, nhưng ông này lại có thể mạnh hơn trong các vấn đề trong nước, chứ không phải chính sách đối ngoại. Ngoài ra, các ứng cử viên có đường lối cứng rắn hơn cũng đã được đề xuất. Một lựa chọn như vậy sẽ phát đi tín hiệu mạnh mẽ rằng lịch sử can dự mang tính xây dựng với Trung Quốc của hai đảng ở Mỹ đang được thay thế bằng cách tiếp cận kiềm chế cứng rắn. Nếu đây là tín hiệu mà ông Trump muốn gửi đi – và nó không nên vậy – thì điều quan trọng là phải cân nhắc kỹ hậu quả trước khi đưa ra một lựa chọn mang tính ý thức hệ như vậy. Thay vào đó, việc lựa chọn một ai đó như Cựu chủ tịch Ngân hàng Thế giới và cũng là cựu Thứ trưởng Ngoại giao Bob Zoellick, người từng đặt ra cụm từ “các bên liên quan có trách nhiệm”, sẽ là dấu hiệu cho thấy mong muốn về một mối quan hệ mang tính xây dựng tiếp tục với Trung Quốc, chừng nào Bắc Kinh trên thực tế còn hành động có trách nhiệm.

Tôi cũng đề xuất rằng việc bổ nhiệm một người có nhiều kinh nghiệm về châu Á như cựu Thứ trưởng Ngoại giao Rich Armitage làm Đại sứ Mỹ tại Nhật Bản sẽ đem lại tác động có lợi trong việc trấn an đồng minh then chốt này của Mỹ, trong khi cũng ra tín hiệu về mong muốn hàn gắn những rạn nứt sâu sắc bên trong giới quyền uy của Đảng Cộng hòa. Đảng Cộng hòa có rất nhiều chuyên gia về an ninh châu Á, phần lớn họ hoặc im lặng về khả năng Trump trở thành tổng thống hoặc bày tỏ quan ngại về các tác động của nó. Họ và Tổng thống mới đắc cử Trump đều có một nghĩa vụ đạo đức là đặt lợi ích của quốc gia lên trước. Không có sự tham gia của các cựu binh nhiều kinh nghiệm này, sẽ khó có thể hình thành và thực hiện một chính sách đối ngoại vững chắc của Mỹ, hoặc phản ứng trước các thách thức mà chắc chắn sẽ tới.

Tái khẳng định vai trò trung tâm của ASEAN và tập trung vào việc trấn an các bạn bè và đối tác tại Đông Nam Á. Cam kết của Washington đối với HIệp hội các quốc gia Đông Nam Á như là một thể chế đã bắt đầu khi tổ chức này được thành lập năm 1967. Mối quan hệ hợp tác được tăng cường với ASEAN bắt đầu với George W. Bush, đã được Tổng thống Obama duy trì và củng cố. May mắn là Đông Nam Á đã không phải là một vấn đề trong chiến dịch tranh cử của tổng thống gần đây; kết quả là việc tái khẳng định cam kết của Mỹ đối với ASEAN và vai trò trung tâm của ASEAN trong việc thúc đẩy hợp tác an ninh đa phương có tính xây dựng nên là điều dễ dàng (nhưng không nên bị bỏ qua).

Quan hệ với các nước thành viên ASEAN riêng lẻ có khả năng trở thành vấn đề gây tranh cãi. Một trong những thành công lớn nhất của Chính quyền Obama tại châu Á là sự can dự mang tính xây dựng với Myanmar; điều này cần được công nhận và duy trì. Chính quyền Trump cũng cần thể hiện sự thông cảm đối với người dân Thái Lan trước việc vị vua được yêu mến của họ băng hà và đảm bảo với chính phủ hiện nay rằng Mỹ sẽ kiên nhẫn nhưng tuy nhiên cam kết với việc đưa nền dân chủ đầy đủ quay trở lại đối với đồng minh lâu nay của Mỹ. Một vấn đề khó khăn hơn sẽ là ứng xử với Philippines dưới thời Tổng thống Duterte (thường được miêu tả là Trump của khu vực Đông Nam Á). Khi xét tới tính khí của từng người, hai nhân vật này dễ có khả năng có sự khởi đầu tồi tệ, duy trì và khuếch đại tổn thất mà một số tuyên bố của Duterte đã gây ra. Trump cần ca ngợi Duterte vì đã thuyết phục Bắc Kinh tuân thủ (ít nhất tạm thời) phán quyết của Tòa Trọng tài tại La Hay ở mức độ liên quan tới quyền đánh bắt cá của Philippines trong vùng biển của chính nước này, và thể hiện sự thông cảm đối với mục tiêu của Duterte là loại bỏ vấn đề ma túy của Philippines, trong khi thể hiện cam kết của Mỹ về thủ tục tố tụng hợp pháp và pháp trị, đặc biệt khi xét tới các quan ngại (hy vọng là sai lầm) của nhiều người về cam kết của chính Trump đối với những nguyên tắc này.

Trấn an các nước như Australia và Ấn Độ về vai trò then chốt của họ trong việc thúc đẩy an ninh tại Đông Á. Các mối quan hệ an ninh của Mỹ với Australia là lâu dài và sâu sắc. Với Ấn Độ, chúng là sản phẩm của một nỗ lực lớn bởi ít nhất 2 chính quyền trước. Các mối quan hệ cần được liên tục tái khẳng định, không phải với tư cách là những cản trở chống lại Trung Quốc, mà là các kết nối then chốt trong việc thúc đẩy hòa bình và ổn định tại Đông Á.

Sửa TPP, đừng loại bỏ nó. Nếu Quốc hội cuối cùng sẵn sàng đặt lợi ích kinh tế và chiến lược của Mỹ lên trước chính trị đảng phái, cơ quan này sẽ thông qua TPP trong nhiệm kỳ “vịt què” sắp tới. Tuy nhiên, khả năng việc này xảy ra dường như rất mong manh, ngay cả khi các thành viên đảng Dân chủ nên nhận ra rằng không có thỏa thuận hay một thỏa thuận mới do đảng Cộng hòa đàm phán nào nhiều khả năng hơn sẽ không quan tâm đến những quan ngại của họ so với thỏa thuận hiện nay mà khó khăn lắm mới đạt được. Nếu Trump thực sự có kế hoạch loại bỏ thỏa thuận hiện nay và bắt đầu lại từ đầu, thay vì đồng ý “sửa nó” – đường hướng của Obama sau khi tranh cử chống lại KORUS (Hiệp định thương mại tự do Mỹ – Hàn Quốc) do George W. Bush đàm phán – thì hành động này, dù đúng dù sai, sẽ được coi là một tín hiệu cho thấy Mỹ đang bỏ rơi cam kết của nước này đối với thương mại tự do; việc này sẽ có những tác động quan trọng về kinh tế và an ninh.

Tránh một cuộc chiến thương mại với Trung Quốc. Một điều chắc chắn là Mỹ nên và phải buộc Trung Quốc có trách nhiệm tuân thủ các cam kết thương mại quốc tế của mình. Việc sử dụng các công cụ hiện hành của Tổ chức Thương mại Thế giới để giải quyết những tranh chấp như vậy vẫn là lựa chọn thích hợp hơn so với khởi động một cuộc chiến thương mại song phương mà hai nước chắc chắn sẽ thiệt hại. Sẽ hữu ích khi nhớ rằng việc có lập trường kiên quyết đối với Trung Quốc (và cả đối với Nga) sẽ dễ dàng hơn rất nhiều khi có một mạng lưới liên minh đáng tin cậy và vững chắc.

Cam kết của Mỹ đối với châu Á không phải là điều mới. Nước Mỹ đã có một sự hiện diện tại châu Á ngay cả trước khi có một bờ biển phía Tây và tầm quan trọng của khu vực này sẽ tiếp tục gia tăng đối với Mỹ, cả về kinh tế lẫn chiến lược, với mỗi năm trôi qua. Trong bài diễn văn chiến thắng, Tổng thống mới đắc cử Trump nói rằng “đã đến lúc nước Mỹ băng bó những vết thương của sự chia rẽ”. Chính sách của Mỹ đối với châu Á, bao gồm các cam kết của nước này với các đồng minh, đã luôn mang tính lưỡng đảng và phải tiếp tục như vậy. Ông cũng nói “chúng ta sẽ hòa hợp với tất cả các quốc gia sẵn sàng hòa hợp với chúng ta”. Để biến điều này trở thành hiện thực, sự rõ ràng về chính sách đối với châu Á của chính quyền mới là điều then chốt và rất cần thiết ngay lúc này.

Nguồn: CSIS – 09/11/2016

TLTKĐB 13/11/2016

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s