Vấn đề dữ liệu hiện thực của ngôn ngữ

Đối tượng nghiên cứu của triết học ngôn ngữ là gì? Chúng ta phải tìm nó ở đâu? Dữ liệu vật chất cụ thể của nó là gì? Phương pháp tiếp cận nó phải ra sao?

Trong phần đầu, phần nhập đề, của công trình này, chúng ta hoàn toàn chưa đề cập đến các vấn đề đó. Chúng ta đã nói về triết học ngôn ngữ, về triết học ngôn từ. Nhưng ngôn ngữ là gì, ngôn từ là gì?

Vấn đề, tất nhiên, không phải là tìm kiếm những định nghĩa hoàn tất nào đó cho các khái niệm cơ bản này. Những định nghĩa như vậy chỉ có thể được đưa ra ở cuối, chứ không phải ở đầu công trình (trong chừng mực một định nghĩa khoa học nói chung có thể được coi là hoàn tất). Ở chặng đầu của bước đường nghiên cứu, cái cần xây dựng không phải là định nghĩa, mà là các chỉ dẫn phương pháp luận: trước tiên cần phải cảm nhận dữ liệu hiện thực – tức là đối tượng nghiên cứu; phải khu biệt đối tượng nghiên cứu với thực tại xung quanh và sơ bộ vạch ra ranh giới của nó. Khi bắt đầu bước đường nghiên cứu, các ý tưởng, công thức và định nghĩa không quan trọng bằng việc nắm bắt trực tiếp – bằng mắt, bằng tay – sự hiện hữu thực sự của đối tượng nghiên cứu.

Nhưng trong trường hợp của chúng ta, mắt và tay lại ở vào một tình thế khó khăn: mất không thể nhìn thấy điều gì, mà tay cũng không có gì để chạm tới. Đôi tai có vẻ ở trong một hoàn cảnh may mắn hơn, bởi vì tai hình như nghe thấy ngôn từ, nghe thấy ngôn ngữ. Trên thực tế, sự cám dỗ của chủ nghĩa kinh nghiệm ngữ âm học bề mặt  là rất mạnh trong nghiên cứu ngôn ngữ. Việc nghiên cứu khía cạnh âm thanh của từ chiếm một tỷ trọng lớn bất tương xứng, thường có tiếng nói quyết định trong ngôn ngữ học và, trong nhiều trường hợp, được tiến hành bên ngoài các mối liên hệ với bản chất thực sự của ngôn ngữ với tư cách là ký hiệu tư tưởng.

Xác định đối tượng nghiên cứu thực sự của triết học ngôn ngữ – đó là một công việc rất không dễ dàng. Mọi nỗ lực của chúng ta nhằm giới hạn đối tượng nghiên cứu, quy giản nó thành một phức hợp vật thể – vật chất nhất định, trực quan và giản tiện, đều làm mất đi bản chất của đối tượng nghiên cứu – đó là bản chất ký hiệu và tư tưởng của nó. Nếu chúng ta khu biệt ngữ âm như là một hiện tượng âm thanh thuần túy, thì ngôn ngữ với tư cách là một đối tượng nghiên cứu chuyên biệt sẽ không tồn tại. Âm thanh hoàn toàn thuộc về thẩm quyền của vật lý học. Nếu chúng ta thêm vào đó quá trình sinh lý sản xuất ra âm thanh và quá trình tiếp nhận âm thanh, chúng ta vẫn chưa đến gần được đối tượng nghiên cứu của mình. Nếu chúng ta gần thêm trải nghiệm (ký hiệu bên trong) của người nói và người nghe, chúng ta sẽ nhận được hai quá trình tâm – vật lý, diễn ra ở hai chủ thể tâm – sinh lý khác nhau, và một phức hợp âm thanh – vật lý, về bản chất tuân theo các quy luật vật lý. Ngôn ngữ, với tư cách là một đối tượng nghiên cứu chuyên biệt, vẫn chưa xuất hiện. Trong khi đó, chúng ta đã gộp vào đây ba lĩnh vực của thực tại – vật lý, sinh lý, tâm lý – và đã nhận được một phức hợp đa thành phần đủ phức tạp. Nhưng phức hợp này không có linh hồn, các bộ phận của nó nằm cạnh nhau mà không được liên kết bởi bất kỳ quy luật nội tại xuyên suốt nào để trở thành hiện tượng ngôn ngữ.

Chúng ta cần phải thêm những gì nữa vào cái phức hợp đã phức tạp của chúng ta? Trước hết, phức hợp này cần được đưa vào một phức hợp còn rộng lớn và phức tạp hơn nhiều – đó là lĩnh vực thống nhất của giao tiếp xã hội có tổ chức. Để quan sát quá trình cháy, cần phải đặt chất cháy vào môi trường không khí. Để quan sát một hiện tượng ngôn ngữ, cần phải đặt các chủ thể phát và nghe âm thanh, cũng như chính âm thanh, vào bầu không khí xã hội. Bởi lẽ, người nói và người nghe phải thuộc về cùng một cộng đồng ngôn ngữ, cùng một xã hội có tổ chức nhất định. Tiếp nữa, cả hai cá nhân chúng ta phải ở trong cùng một bối cảnh xã hội gần gũi, tức là, họ phải có liên hệ với nhau, với tư cách con người với con người, trên cùng một cơ sở nhất định. Chỉ có trên cùng một cơ sở nhất định, thì sự trao đổi bằng lời nói mới có thể diễn ra, bất luận cơ sở chung đó là chung về cái gì, và như ta vẫn thường nói, có tính ngẫu nhiên như thế nào.

Như vậy, sự thống nhất của môi trường xã hội sự thống nhất cảu sự kiện giao tiếp xã hội gần nhất – đó là những điều kiện thiết yếu để đảm bảo rằng phức hợp vật – tâm – sinh lý mà chúng ta vừa chỉ ra có thể liên hệ đến ngôn ngữ, đến lời nói, có thể trở thành một sự kiện ngôn ngữ – lời nói. Hai sinh thể trong các điều kiện môi trường thuần túy tự nhiên không sản sinh ra bất kỳ một sự kiện lời nói nào.

Nhưng với kết quả phân tích này, chúng ta, trái với mong muốn giới hạn đối tượng nghiên cứu, lại đi đến việc mở rộng và làm phức tạp nó lên gấp bội.

Bởi lẽ, môi trường xã hội có tổ chức, trong đó phức hợp của chúng ta được đưa vào, và bối cảnh giao tiếp xã hội gần nhất, tự nó đã cực kỳ phức tạp, được xuyên suốt bởi những mối liên hệ đa dạng và đa phương, trong đó không phải tất cả đều quan trọng như nhau đối với sự nhận thức các sự kiện ngôn ngữ, không phải tất cả đều là những bộ phận cấu thành của ngôn ngữ. Cuối cùng, toàn bộ hệ thống đa dạng các hiện tượng và quan hệ, các quá trình và sự vật này cần phải được quy về một mẫu số chung; tất cả các tuyến của nó phải được dẫn đến một trung tâm duy nhất – đến tiêu điểm của quá trình ngôn ngữ.

* * *

Trong phần trước, chúng ta đã trình bày về vấn đề ngôn ngữ, nghĩa là đã triển khai vấn đề và chỉ ra những khó khăn của nó. Làm sao để giải quyết vấn đề này trong triết học ngôn ngữ và ngôn ngữ học nói chung? Trên hành trình giải quyết nó, những cái mốc nào đã được cầm và có thể giúp chúng ta định hướng?

Nhiệm vụ của chúng ta không phải là phác họa lịch sử, hay thậm chí là trình bày hiện trạng của triết học ngôn ngữ và ngôn ngữ học nói chung. Ở đây, chúng ta tự giới hạn trong việc phân tích tổng quát các xu hướng lớn của tư tưởng triết học và ngôn ngữ học trong thời đại mới.

Trong triết học ngôn ngữ và các bộ phận phương pháp luận tương ứng của ngôn ngữ học nói chung, ta có thể nhận thấy hai xu hướng chính trong việc giải quyết vấn đề của chúng ta – vấn đề khu biệt giới hạn ngôn ngữ như là đối tượng nghiên cứu chuyên biệt. Điều này, tất nhiên, dẫn đến những khác biệt cơ bản giữa hai xu hướng này về tất cả các vấn đề còn lại của khoa học về ngôn ngữ.

Xu hướng thứ nhất có thể gọi là chủ nghĩa chủ quan cá nhân trong khoa học về ngôn ngữ, còn xu hướng thứ hai – chủ nghĩa khách quan trừu tượng.

Các luận điểm cơ bản của xu hướng tư tưởng triết học ngôn ngữ thứ nhất (chủ nghĩa chủ quan cá nhân)

Xu hướng thứ nhất coi hành động nói mang tính sáng tạo cá nhân là cơ sở của ngôn ngữ (theo nghĩa là mọi hiện tượng ngôn ngữ không có ngoại lệ). Tâm lý cá nhân là nguồn gốc của ngôn ngữ. Các quy luật sáng tạo ngôn ngữ – mà ngôn ngữ là một sự hình thành liên tục, sáng tạo liên tục – có bản chất là những quy luật tâm lý – cá nhân, chúng là cái mà những nhà ngôn ngữ học và triết học ngôn ngữ phải nghiên cứu. Làm sáng tỏ một hiện tượng ngôn ngữ có nghĩa là quy nó về một hành động sáng tạo cá nhân có ý thức (và thậm chí thường là có lý). Mọi thứ khác trong công việc của nhà ngôn ngữ học chỉ có tính chất sơ bộ, quan sát, mô tả, phân loại, chỉ là sự chuẩn bị cho việc giải thích thực sự hiện tượng ngôn ngữ do hành động sáng tạo cá nhân tạo ra, hoặc phục vụ những mục đích thực tiễn trong việc học một ngôn ngữ đã hoàn tất. Ngôn ngữ, từ quan điểm này, tương tự như các hiện tượng tự tư tưởng khác, đặc biệt là nghệ thuật và hoạt động thẩm mỹ.

Quan điểm chính cảu xu hướng thứ nhất về ngôn ngữ, như vậy, quy tụ vào bốn luận điểm cơ bản sau đây:

1 – Ngôn ngữ là một hoạt động, một quá trình tạo lập không ngừng (energeia), được thực hiện bởi các hành động nói cá nhân.

2 – Các quy luật sáng tạo ngôn ngữ về bản chất là các quy luật tâm lý – cá nhân.

3 – Sự sáng tạo ngôn ngữ – đó là một sự sáng tạo có ý thức, tương tự như sáng tạo nghệ thuật.

4 – Ngôn ngữ, với tư cách một sản phẩm đã hoàn tất (ergon), một hệ thống ngôn ngữ ổn định (từ vựng, ngữ pháp, ngữ âm), giống như là một thứ trầm tích đã chết, một thứ dung nham đã đông cứng của sáng tạo ngôn ngữ, được ngôn ngữ học kiên cố hóa một cách trừu tượng để phục vụ cho mục đích học tiếng với tưc ách một công cụ có sẵn.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.N. Voloshinov – Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ – NXB ĐHQGHN 2015.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s