Điều tiết việc tài trợ cho chiến dịch tranh cử. Những người đóng thuế tài trợ một phần cho các chiến dịch tranh cử tổng thống, song phần lớn số tiền chi cho họ và tất cả tiền chi cho các cuộc bầu cử Hạ viện và Thượng viện đều đến từ các nguồn tư nhân. Cá cuộc bầu cử do tư nhân tài trợ không tránh khỏi làm nổi lên hai vấn đề liên quan tới nền dân chủ Mỹ. Đầu tiên, nền dân chủ yêu cầu sự bình đẳng chính trị: mỗi người một phiếu bầu. Nhưng do tiền được phân phối không đều nên vai trò của nó trong các hoạt động chính trị bầu cử đã đe dọa tới sự bình đẳng của nền dân chủ. Thứ hai, các cuộc bầu cử do tư nhân tài trợ làm dấy lên sự nghi ngờ rằng các quan chức được bầu sẽ phục vụ cho những người tài trợ chứ không phải cho cử tri. Tình thế nan giải ở đây là các cuộc bầu cử có ý nghĩa đòi hỏi phải có tiền, song việc theo đuổi tiền bạc có thể hủy hoại mục đích thực sự của bầu cử.

Những nỗ lực nhằm giải quyết thế nan giải này thông qua việc điều tiết chỉ thu được thành công hạn chế. Trước thập niên 1970, việc tài trợ cho chiến dịch trên thực tế không bị điều tiết. Quốc hội đôi khi cũng thông qua những hạn chế đối với các khoản đóng góp và chi tiêu, nhưng các hạn chế này dễ dàng bị phá vỡvà chưa bao giờ có hiệu lực. Thái độ hờ hững đối với tiền tài trợ cho chiến dịch đã giảm đi với sự phổ biến của các chiến dịch lấy ửng cử viên làm trung tâm và sự phát triển của truyền thông, cả hai yếu tố này đều nhanh chóng làm tăng nhu cầu tiền cho chiến dịch mà con làm tăng nỗi lo ngại rằng những người chiến thắng sẽ ủng hộ những người đóng góp chứ không phải các cử tri.

Câu trả lời của Quốc hội là Đạo luật tài trợ vận động bầu cử liên bang năm 1971 (FECA), được sửa đồi phần lớn năm 1974. FECA cung cấp một phần tài trợ của liên bang cho các chiến dịch tranh cử tổng thống và yêu cầu thông báo đầy đủ trước công chúng những hạn chế chặt chẽ đối với khoản đóng góp và chi tiêu trong các cuộc bầu cử liên bang. Nó cũng thành lập Ủy ban bầu cử liên bang để thi hành luật và thu thập và công bố những thông tin chi tiết về các khoản đóng góp và chi tiêu cho chiến dịch. Tòa án tối cao, trong vụ Buckley kiện Valeo (1976) đã tán thành những yêu cầu về báo cáo và hạn chế đóng góp (để ngăn ngừa “tham nhũng hay dấu hiệu của tham nhũng”), nhưng phản đối những hạn chế về chi tiêu với lập luận rằng chúng gây cản trở quyền ngôn luận chính trị được Tu chính án thứ nhất bảo vệ. Tuy nhiên, các ứng cử viên tổng thống có thể được yêu cầu tôn trọng các giới hạn về chi tiêu như là một điều kiện để nhận được sự tài trợ công cho các chiến dịch của họ. Cũng trong vụ Buckley, Tòa án bác bỏ, một lần nữa trên cơ sở của Tu chính án thứ nhất, mức trần đối với các khoản chi tiêu được phép của ứng cử viên trong chiến dịch, cũng như mức tối đa mà một cá nhân có thể chi để tiến hành vận động ủng hộ hay chống lại các ứng viên bằng một chiến dịch độc lập.

Lo ngại rằng những hạn chế chi tiêu sẽ gây bế tắc cho hoạt động đảng phái truyền thống tại địa phương trong các cuộc bầu cử liên bang, Quốc hội đã nới lỏng FECA vào năm 1979, sửa đổi đạo luật để cho phép các khoản đóng góp và chi tiêu không hạn chế cho việc thu hút phiếu và xây dựng đảng ở địa phương. Một phán quyết năm 1996 của tòa án cũng trao cho các tổ chức đảng quyền tiến hành các khoản chi tiêu độc lập không bị hạn chế. Các quỹ cho những hoạt động này thường được gọi là tiền mềm, trái ngược với “tiền cứng” được gây quỹ và chi tiêu theo những hạn chế của FECA. Khi các khoản tiền mềm không bị điều tiết dành cho các ủy ban của đảng tăng lên, tiền mềm sẽ trở thành mục tiêu ưa thích của các nhà cải cách tài chính cho chiến dịch, và vào tháng Ba năm 2002, Quốc hội đã thông qua Đạo luật cải cách tài trợ vận động của hai đảng (BCRA), mà trong số nhiều sửa đổi có khoản cấm các đảng gây quỹ hay tiêu các khoản tiền mềm của đảng cho các ứng cử viên liên bang. Được hỗ trợ bởi tình cảm cao độ do cuộc đua vào chức vụ tổng thống tạo nên, năm 2004 các đảng đã phản đối bằng cách tăng các khoản tiền cứng lên và rất nhiều nhà tài trợ cho các khoản tiền mềm trước đó đã chuyển khoản đóng góp của mình sang cái gọi là các ủy ban 527 (được đặt tên theo mã thuế của họ), cùng một lúc tiêu 405 triệu USD cho các chiến dịch độc lập để ủng hộ – hoặc thường xuyên hơn là chống lại – các ứng cử viên tổng thống (xem hộp “Các khoản tiền mềm tìm thấy nơi trú ngụ mới”).

Các khoản tiền mềm tìm thấy nơi trú ngụ mới

Câu chuyện về những cải cách tài trợ cho chiến dịch tranh cử đã dẫn tới cơn lũ “tiền mềm” dồn cho chiến dịch tranh cử tổng thống như thế nào, cũng như các cuộc cải cách nhằm ngăn chặn cơn lũ này chỉ khơi dòng cho nó ra sao, là minh chứng cho cuộc xung đột đảng phái, những tình thế nan giải và những hậu quả ngoài dự đoán gây lúng túng cho chính sách tài trợ cho chiến dịch vận động bầu cử. Với việc đảng mắc nợ nặng nề sau cuộc bầu cử năm 1986, những nghị sĩ Đảng Dân chủ đã đề xuất các dự luật cải cách nhằm hạn chế việc chi tiêu cho chiến dịch vận động và tài trợ cho các chiến dịch vận động tranh cử tổng thống với ngân sách công. Sự phản đối của Đảng Cộng hòa đối với những đề xuất cải cách này đã thất bại sau vụ bê bối Watergate, trong đó sự lạm dụng các khoản tài trợ cho chiến dịch vận động là quá rõ ràng. Sau khi Richard Nixon từ chức vào tháng Tám 1974 để tránh bị luận tội, Tổng thống kế nhiệm Gerald Ford – người cũng phản đối việc chính quyền tài trợ cho các chiến dịch vận đồng bầu cử giống như Nixon – đã miễn cưỡng đồng ý ký vào Đạo luật tài trợ vận động bầu cử liên bang (FECA) sửa đổi, thừa nhận rằng “thời thế đòi hỏi đạo luật phải được thông qua”.

Việc áp dụng hệ thống mới trong các cuộc bầu cử năm 1976 đã cho thấy một vấn đề ngoài dự đoán. Để đáp ứng giới hạn về chi tiêu, chiến dịch vận động bầu cử của tổng thống đã tập trung vào việc quảng cáo trên phương tiện truyền thông để tận dụng lợi thế về mặt hiệu quả của nó và duy trì sự kiểm soát chặt chẽ ở trung ương đối với mọi hoạt động vận động khác để tránh vi phạm luật. Các đảng ở bang và địa phương hầu như không có cơ hội tham gia, và sự thiếu vắng các hoạt động vận động quần chúng quen thuộc – các khẩu hiệu vận động, nút áo có in hình, những biển báo ở các sân chơi – bị lưu ý và chỉ trích khắp nơi. Để duy trì vai trò của các đảng ở địa phương và các nhà hoạt động ở cơ sở, năm 1979, Quốc hội đã sửa đổi FECA, cho phép các đảng ở bang và địa phương được gây quỹ và chi tiền cho hoạt động củng cố đảng, đăng ký cửt ri và vận động cử tri đi bỏ phiếu. Không có giới hạn nào được đặt ra đối với các khảon đóng góp hoặc chi tiêu cho mục đích này, và, cho tới tận khi đạo luật này được sửa đổi lần nữa vào năm 1988, thậm chí còn không phải báo cáo với Ủy ban bầu cử liên bang về tổng số tiền quyên góp và chi tiêu. Những khoản quỹ này được gọi là “tiền mềm” để phân biệt với các khoản “tiền cứng” bị điều tiết chặt chẽ do hệ thống ngân sách công quản lý.

Những cách diễn giải tùy ý của Ủy ban bầu cử liên bang và các tòa án liên bang về những hoạt động nào được gọi là “củng cố đảng” đã cho phép các ứng cử viên tổng thống gây quỹ và chi tiêu vô tội vạ với lời biện bạch hợp pháp rằng họ chỉ đang giúp nuôi dưỡng sự ủng hộ của công chúng. Hậu quả là, việc tài trợ cho chiến dịch vận động tranh cử tổng thống trở nên tự do giống như trước khi có các cuộc cải cách ở thập niên 1970. Trong nhiều năm, sự bất đồng giữa hai đảng khiến cho Quốc hội không thể cải cách hệ thống, nhưng cuối cùng, năm 2002, các vụ bê bối xung quanh sự sụp đổ của Enron – người khổng lồ trong lĩnh vực năng lượng, một nhà tài trợ hào phóng với cả các khoản tiền cứng lẫn tiền mềm dành cho cả hai đảng – đã buộc đa số ở cả hai viện của Quốc hội thông qua Đạo luật cải cách tài trợ vận động của hai đảng (BCAR), bất chấp sự phản đối mạnh mẽ của các lãnh tụ Đảng Cộng hòa. Trong các quy định của BCAR, có một quy định cấm việc đóng góp các khoản tiền mềm cho đảng, và như vậy đã tước bỏ hoàn toàn nguồn quỹ này của các đảng.

Song khoản tiền mềm không biến mất. Những nhóm miễn thuế được thành lập theo các quy định tại khoản 527 của đạo luật thuế thu nhập có thể gây quỹ không hạn chế để chi tiêu vào việc huy động cử tri, vận động cho các vấn đề, và hầu như bất kỳ hoạt động vận động tranh cử nào khác, miễn là chúng không công khai vận động cho cuộc bầu cử hoặc sự thất bại của một ứng cử viên liên bang, và không phối hợp hoạt động với các đảng hoặc ứng cử viên. Để đối phó với BCAR, phần lớn các nhà tài trợ những khoản tiền mềm lớn chuyển sang hỗ trợ cho các ủy ban 527 – những tổ chức mà phần đóng góp tài chính cho các cuộc bầu cử liên bang đã tăng vọt từ 151 triệu USD năm 2002 lên tới 405 triệu USD năm 2004. Hơn 50 cá nhân và tổ chức đã đóng góp ít nhất là 1 triệu USD cho các ủy ban này; nhà tài phiệt George Soros đứng đầu danh sách, với 24 triệu USD quyên góp cho một số ủy ban 527 chống Bush, ủng hộ Kerry. Nhờ Soros và một số tỷ phú hào phóng theo đường lối tự do, cứ 4 trong 5 USD quyên góp của các ủy ban 527 được chi để ủng hộ những người Dân chủ năm 2004. Ngay sau cuộc bầu cử, Thượng nghị sĩ Tren Lott, Đảng Cộng hòa, bang Mississippi, người với tư cách là lãnh tụ phe đa số đã chống lại BCAR và quy định cấm khoản tiền mềm đóng góp cho các đảng của đạo luật này, đã bất ngờ tham gia cùng các nhà cải cách đề xuất việc kiểm soát chặt chẽ hơn nữa các ủy ban 527.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Lôgích chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s