Mỗi khi chúng ta sử dụng sức mạnh thì chúng ta đã cân đối lợi ích với chi phí. Và trong mỗi trường hợp, việc chúng ta sử dụng sức mạnh quân sự của chúng ta đã đặt sức mạnh đằng sau chính sách ngoại giao của chúng ta, cho phép chúng ta đạt được sự tiến bộ mà nếu làm khác đi thì không thể nào có được.

Iraq đe dọa tiến hành xâm lược và điều đó đụng chạm đến rất nhiều lợi ích của Mỹ. Do vậy chúng ta đã lãnh đạo một liên minh dưới sự ủy quyền của Liên hợp quốc – nhưng chúng ta sẵn sàng hành động một mình nếu buộc phải làm như vậy. Kết quả hành động kiên quyết của Tổng thống không những là việc gần như giải quyết được cuộc khủng hoảng hiện nay, mà còn là một nghị quyết mới của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc chốn glại cuộc xâm lược tương lai của Iraq.

Ở Haiti nơi mà những lợi ích ít hơn song quan trọng đang bị đe dọa, chúng ta cũng đã hành động nhưng với một chi phí thấp hơn nhiều. Trong ba năm, chúng ta đã khai thác hết tất cả các con đường thương lượng và đã cố gắng sử dụng các đòn trừng phạt về kinh tế để giữ trọn cam kết của hai chính quyền về việc khôi phục chính phủ được bầu lên một cách dân chủ ở đó. Nhưng cuối cùng chính việc sử dụng sức mạnh mới có thể thành công. Khi các tướng Haiti nhận được tin rằng phi đội Anborne thứ 82, trên thực tế, đã cất cánh và đang tiến về phía họ – thì họ mới chịu nhượng bộ. Do đó, chúng ta đã đạt được một cách hòa bình điều mà chúng ta sẵn sàng làm bằng súng đạn. Tôi còn nhớ rất rõ buổi chiều chủ nhật đó khi xem ra đã đến lúc chúng ta có thể phải sử dụng đến sức mạnh. Nếu anh đã sẵn sàng sử dụng sức mạnh thì theo Tôn Tử anh có thể “khuất phục được kẻ thù mà không cần phải chiến đấu”. Nhà chiến lược thời cổ đại này gọi đó là “tột đỉnh của sự khéo léo”.

Ở Bosnia, chúng ta chưa có được một sự tiến bộ mà chúng ta mong muốn, song khi chính sách ngoại giao được kết hợp với sức mạnh quân sự, thì chúng ta sẽ đạt được diễn biến tích cực. Thí dụ, tối hậu thư Sarajevo đã thành công chủ yếu vì việc NATO đe dọa dùng không quân tấn công là việc cụ thể. Việc NATO quyết định sử dụng sức mạnh không quân đã giảm được một cách đáng kể sức ép đối với Sarajevo, đã ngăn chặn được sự sụp đổ của Gorazde, và tạo ra được cơ sở cho hiệp định vào mùa xuân vừa qua giữa người Bosnia và người Croatia ở Bosnia nhằm chấm dứt xung đột của họ và hình thành một liên bang. Quyết định mới đây của NATO nhằm tìm kiếm một quyết định rõ ràng hơn và linh hoạt hơn từ Liên hợp quốc ở Bosnia là một bước tiến theo hướng đúng.

Ở Rwanda và Somalia, sứ mệnh của chúng ta trước hết là nhân đạo, còn các lợi ích của chúng ta thì nhỏ hơn. Chỉ có lực lượng quân sự của Mỹ mới có thể làm được điều mà nó đã làm, cứu sống được hàng trăm người và chúng ta rất tự hào về điều đó. Song về lâu dài hơn, những lợi ích của chúng ta không biện minh được điều gì khác nữa ngoài việc hỗ trợ cho những nỗ lực gìn giữ hòa bình đa quốc gia một khi sứ mệnh của chính chúng ta đã kết thúc. Và ở đó, cũng như ở những nơi khác, những nỗ lực gìn giữ hòa bình quốc tế chỉ có thể mang lại cho một xã hội đã bị rạn nức một cơ hội – một thời kỳ an ninh tương đối tốt – để hàn gắn các vết thương của chính nó. Không có một lực lượng bên ngoài nào có thể áp đặt được cho bất cứ một xã hội nào điều mà, rốt cuộc, lại là trách nhiệm riêng của xã hội đó.

Một điểm cuối cùng nữa là: đương nhiên chính sách sẽ không thành công hoặc thất bại trong một môi trường chân không. Công luận và Quốc hội đã giữ đúng vai trò trọng tâm trong cách mà Mỹ sử dụng sức mạnh của mình ở nước ngoài. Có lẽ bài học nổi bật nhất mà chúng ta học được trong suốt cuộc Chiến tranh ở Việt Nam là tầm quan trọng của điều mà Leslie Gelb đã từng gọi là “quân chủ bài domino”: công luận. Cuộc xung đột đó đã dạy cho chúng ta phải suy nghĩ thận trọng hơn về chi phí, thận trọng hơn về sức mạnh ý chí cũng như sức mạnh vũ khí, và thận trọng hơn về việc phải can dự bao lâu. Nhưng trước hết, nó đã dạy cho chúng ta rằng nước Mỹ không thể kéo dài được cuộc chiến mà không có sự ủng hộ của công luận.

Trong thời đại chúng ta, công luận được hình thành theo những cách còn rắc rối hơn cả trong thời gian Chiến tranh ở Việt Nam. Điều này đặc biệt đúng đối với những hành động can thiệp có tính nhân đạo và phi truyền thống khác. Việc hãng thông tấn CNN và các hãng khác tăng mạnh thời lượng và lĩnh vực thông tin có nghĩa là hầu như hàng ngày, mọi người Mỹ đều phải mang đầy thái độ vừa yêu vừa ghét một cách đau đớn.

Những hình ảnh bạo lực, bần cùng và tàn bạo, lẽ đương nhiên sẽ thúc đẩy người ta đòi phải can thiệp. Màn ảnh vô tuyến sẽ biến một sự kiện cụ thể thành một hiện tượng xem ra hết sức phổ biến của xã hội nước ngoài đó. Đáng tiếc là máy ảnh không có cái nhìn ngoại vi. Ở nước tôi, và có lẽ chỉ có ở nước tôi thôi, người xem truyền hình cảm thấy có thể làm và phải làm một điều gì đó trước sự chém giết này.

Nhưng khi những hình ảnh của những người bị thương vong – những người của chúng ta bị thương vong – xuất hiện, thì mọi thứ có thể thay đổi ngay lập tức. Các chi phí sẽ trở nên rõ ràng một cách đau đớn, và các câu hỏi sẽ được đặt ra: liệu điều này có đáng phải hy sinh đến một tính mạng người Mỹ như vậy không?

Cả hai tâm lý này đều không làm cho chúng ta ngạc nhiên hoặc mất bình tĩnh. Cả hai phản ứng đó đều là những biểu hiện của việc người Mỹ rất coi trọng giá trị sinh mạng con người. Và chúng ta là một dân tộc tốt hơn cả ở phương diện này.

Nhưng trong khi với tư cách là những cá nhân, tất cả chúng ta có thể chia sẻ thái độ vừa yêu vừa ghét một cách đau đớn nói trên, song chính phủ phải có trách nhiệm đưa ra những sự lựa chọn thực tế và hành động – phân biệt cái thực chất với cái bề ngoài, hành động trên cơ sở cái gì là đúng, và tiếp đó khi hành động thì hành động kiên quyết và không do dự.

Để làm được việc ấy cần phải có sự hiểu biết và hợp tác tốt hơn giữa cơ quan hành pháp và Quốc hội. Đương nhiên, cả hai tổ chức này của chúng ta cuối cùng đều phải chịu trách nhiệm trước công chúng về các quyết định của mình. Và điều đó có nghĩa là phải có sự thận trọng cần thiết và thích hợp đối với việc gánh vác những chi phí cho hành động quân sự. Xét cho cùng chính nhân dân Mỹ là những người phải chịu gánh nặng và trả giá.

Nhưng từ kinh nghiệm gần đây nhất của chúng ta ở vùng vịnh Persian, chúng ta cũng biết rằng nhân dân Mỹ không chống lại việc sử dụng sức mạnh như một số người có thể nghĩ, đặc biệt nếu những lợi ích lâu đời như an ninh ở châu Âu hoặc ở châu Á hoặc ở Trung Đông bị đe dọa. Và như một công trình nghiên cứu mới của RAND cho thấy, họ muốn thấy quân đội của chúng ta thành công một khi họ quyết tâm.

Chúng ta đã thấy rằng Quốc hội cũng ủng hộ việc sử dụng sức mạnh bất cứ khi nào những lợi ích cổ điển của quốc gia lâm nguy. Đó là một lợi thế lớn, vì ngành hành pháp và Quốc hội rất cần phải hợp tác với nhau về các vấn đề này.

Nhưng trong thế giới sau Chiến tranh Lạnh, chúng ta cũng phải có khả năng sử dụng hạn chế sức mạnh trong những hoàn cảnh mới. Và thường xuyên trong những trường hợp như thế, một số người trong Quốc hội sẽ phản ứng lại bằng cách chỉ lưu ý nhấn mạnh sự thận trọng, chỉ xem xét những chi phí và những con số thiệt hại chứ không thấy được những lợi ích và cơ hội.

Và – xin nhắc rằng – khi chúng ta sử dụng sức mạnh thì chúng ta phải sử dụng một cách kiên quyết, không do dự. Nếu không như vậy sẽ nguy hiểm cho các mục tiêu của chúng ta và cho các binh lính của chúng ta, cả trong sứ mệnh cụ thể sát sườn lẫn trên khắp thế giới. Khi Quốc hội gần như tự động xem xét các nghị quyết đòi rút sớm binh lính của chúng ta về nước nếu được triển khai ở những môi trường phi truyền thống, thì việc đó sẽ làm xói mòn các mục tiêu của chúng ta và gia tăng thêm những mạo hiểm cho binh lính của chúng ta. Đó thực sự là một sự hấp dẫn đối với kẻ sát nhân để hắn xem xét liệu hắn có thể đẩy chúng ta ra khỏi một số xứ sở khó khăn của thế giới bằng cách tiến công binh linh của chúng ta ở đó không. Vì lý do này, ngoài những lý do khác, Tổng thống Clinton đã phản đối việc rút quân vội vã ra khỏi Somalia vào mùa Thu vừa qua. Đó có thể sẽ là giải pháp sai lầm và có nghĩa là sẽ đưa ra cách hiểu sai cho khắp thế giới. Thay vào đó, ông đã tăng thêm số quân trước khi giảm dần xuống một cách thành công theo dự kiến trước và không gây thêm thương vong.

Vấn đề này vượt quá công việc hàng ngày mà chúng ta phải làm khi đối phó với Quốc hội. Và thừa nhận vai trò của Quốc hội, Chính quyền Clinton đã tham khảo ý kiến Quốc hội theo những cách chưa từng có – chỉ riêng trường hợp Haiti đã tham khảo đến 75 lần.

Nhưng điều cần đến là phải có một cơ chế và hệ thống tham khảo ý kiến giữa các cường quốc chiến tranh. Năm tới (1995), chúng ta sẽ tổ chức thảo luận nghiêm túc với Quốc hội về việc sửa đổi Nghị quyết về các Cường quốc chiến tranh (War Powers Resolution) nhằm cải thiện cuộc đấu tranh giữa hai ngành này của chính phủ từng tồn tại suốt hai thế kỷ qua. Việc đó sẽ không bao giờ giải quyết được, và có lẽ không bao giờ nên giải quyết. Nhưng những lời lẽ và giọng điệu, cạnh tranh về việc hoạch định chính sách an ninh quốc gia cần phải được cải thiện, và phải giảm bớt một số sắc thái đảng phái hiện nay của nó, nếu không, dân tộc và quân đội của chúng ta có thể sẽ phải trả giá không cần thiết cho điều đó.

Người Mỹ biết rằng việc kết thúc Chiến tranh Lạnh chắc chắn không có nghĩa là chúng ta sẽ được sống trong một thế giới thực sự an toàn. Chúng ta cũng biết rằng trước chúng ta có một cơ hội để xây dựng một thế giới dân chủ hơn, khoan dung hơn và đa nguyên hơn. Đó là một loại cơ hội mà hầu như chỉ đến có một lần trong một thời đại mà thôi. Để khắc phục được các mối nguy hiểm và hiểu thấu được thời đại, chúng ta phải huy động được khả năng sáng tạo và toàn bộ sự khéo léo về ngoại giao của chúng ta. Và nhờ kỹ năng đó, chúng ta phải luôn luôn khai thác triệt để sức mạnh của chúng ta. Do vậy, chúng ta phải khắc sâu vào trí nhớ của mình câu châm ngôn của một trong những nhà hiện thực vĩ đại của tời đại Ánh sáng, Fredrick Đại Đế, nói rằng: “Ngoại giao mà không có vũ khí cũng giống như âm nhạc mà không có nhạc cụ”.

Và chúng ta vẫn phải cảnh giác trước mối nguy hiểm của sự rút lui và hòa hoãn. Chúng ta phải bác bỏ những lời kêu gọi của những người cánh tả và những người cánh hữu, cũng như thái độ hùng biện của những người bất khả tri mới (Neo-Know-Nothings) không có một quan điểm cụ thể nào, là cứ ở nguyên trong nước chứ đừng can dự vào các vấn đề quốc tế.

Các bạn trong phòng này không thể tin được là chúng ta đang đấu một hiệp mới của cuộc đấu tranh cũ giữa việc nên can dự hay nên đứng ngoài. Cuộc tranh luận hiện nay không được xác định rõ bằng trong thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới. Nhưng mỗi khi dự thảo kế hoạch viện trợ nước ngoài bị cắt giảm, công việc triển khai quân dội bị phản đối trên cơ sở tư tưởng chứ không phải trên cơ sở thực tiễn, hoặc nếu một hiệp định buôn bán có lợi bị tấn công, thì đó là một phần của cùng một lập luận truyền thống đó. Sự bốc đồng muốn rút khỏi thế giới, giống như sương mù, rồi sẽ lại tan ngay mà thôi. Do vậy, tôi đề nghị các bạn cùng chúng tôi nỗ lực duy trì quốc gia của chúng ta khỏi bị lu mờ đi trước một thế giới mới còn tiếp tục nguy hiểm. Vì đó cũng chính là thời điểm của cơ hội kỳ diệu và to lớn. Tôi nghĩ chúng ta sẽ nắm được cơ hội đó.

Người dịch: Lưu Ngọc Trịnh

Nguồn: Anthony Lake – American power and American diplomacy – Fletcher Forum of World Affairs, 1995, vv.19. No2, p 87 – 94

TĐB 96 – 07

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s