Các đại diện của chủ nghĩa chủ quan cá nhân

Đại diện lừng danh nhất của xu hướng thứ nhất, người đặt nền tảng cho nó, là Wilhelm von Humboldt.

Những ý tưởng mạnh mẽ của Humboldt có ảnh hưởng vượt xa ranh giới của xu hướng vừa được chúng mô tả. Có thể nói rằng, toàn bộ ngôn ngữ học hậu – Humboldt cho tới ngày nay đều nằm dưới sự ảnh hưởng quyết định của ông. Tất nhiên, tổng thể các ý tưởng của Humboldt không thể gói gọn trong phạm vi bốn luận điểm cơ bản mà chúng ta vừa trình bày; nó rộng lớn hơn, phức tạp hơn và mâu thuẫn hơn, vì vậy Humboldt có thể trở thành người mở đường của những xu hướng rất khác nhau. Tuy nhiên, hạt nhân các ý tưởng của Humboldt là sự thể hiện mạnh mẽ nhất và sâu sắc nhất những định hướng lớn đặc trưng cho xu hướng thứ nhất mà chúng ta vừa mô tả.

Trong nền ngôn ngữ học Nga, đại diện quan trọng nhất của xu hướng thứ nhất là A.A. Potebnya và nhóm những người theo ông.

Những đại diện kế tiếp của xu hướng thứ nhất đã không đạt đến độ sâu sắc và tổng hợp triết học của Humboldt. Xu hướng này trở nên nông cạn, đặc biệt là khi nó chuyển sang khuynh hướng thực chứng và kinh nghiệm hời hợt. Ngya ở Steinhal đã không còn tầm vóc của Humboldt. Bù lại tính chính xác và tính hệ thống phương pháp luận. Steinhal cũng cho rằng tâm lý cá nhân là cội nguồn của ngôn ngữ, còn các quy luật của sự phát triển ngôn ngữ là các quy luật tâm lý.

Những luận điểm cơ bản của xu hướng thứ nhất trở nên vô cùng nông cạn ở tâm lý học kinh nghiệm của Wundt và những người theo ông. Nguyên lý cơ bản của Wundt, nói vắn tắt, cho rằng mọi sự kiện ngôn ngữ, không có ngoại lệ, đều có thể được giải thích từ quan điểm tâm lý cá nhân trên cơ sở ý chí luận. Quả thực, Wundt, cũng như Steinhal, coi ngôn ngữ là một sự kiện của “tâm lý dân tộc” (Völkerpsychologie) hay “tâm lý chủng tộc”. Nhưng tâm lý dân tộc của Wundt là tổng của các tâm lý cá nhân riêng biệt, đối với ông, chỉ có chúng mới bao hàm đầy đủ thực tại.

Một giải thích của ông về các sự kiện ngôn ngữ, huyền thoại, tông giáo cuối cùng đều quy về cách giải thích thuần túy tâm lý học. Wundt không hề biết đến những quy luật đặc thù, thuần túy xã hội học, có trong mọi ký hiệu tư tưởng, không thể quy giản được về bất cứ quy luật tâm lý – cá nhân nào.

Ngày nay, xu hướng thứ nhất của triết học ngôn ngữ, với trường phái Vossler, sau khi tự ném đi cái ách của chủ nghĩa thực chứng, một lần nữa lại phát triển mạnh mẽ và mở rộng biên độ nhận thức về nhiệm vụ của mình.

Trường phái Vossler (còn gọi là “Triết học duy tâm mới”, “idealistische Neuphilologie”) là một trong những trào lưu mạnh mẽ nhất của tư tưởng triết học ngôn ngữ hiện đại, điều đó không cần phải tranh cãi. Và đóng góp tích cực, đặc sắc của những người theo trường phái này vào ngôn ngữ học (Nghiên cứu các ngữ hệ Latin và Germanic) cũng rất lớn. Ngoài bản thân Vossler, chỉ cần nhắc tên những người theo ông, như Leo Spitzer, Lorsch, Lerch… cũng đủ để nói lên tất cả. Mỗi người trong số họ, chúng ta sẽ còn phải nhắc đến nhiều lần.

Quan niệm triết học ngôn ngữ của Vossler và trường phái của ông hoàn toàn có thể được mô tả khái quát bằng bốn luận điểm cơ bản của xu hướng thứ nhất mà chúng ta đã trình bày. Trường phái Vossler trước hết được đặc trưng bởi sự đoạn tuyệt mang tính nguyên tắc và tuyệt đối đối với chủ nghĩa thực chứng ngôn ngữ học, vốn không nhìn thấy gì ngoài hình thức ngôn ngữ (chủ yếu là ngữ âm, như là khía cạnh “thực chứng” nhất) và hành động tâm – sinh lý giản đơn trong việc sản sinh ra nó. Liên quan đến điều đó là việc đưa yếu tố ý định – tư tưởng lên hàng quan trọng nhất trong ngôn ngữ. Động lực chính của sự sáng tạo ngôn ngữ là “thị hiếu ngôn ngữ” – một dạng đặc biệt của thị hiếu nghệ thuật. Thị hiếu ngôn ngữ – đây chính là cái chân lý ngôn ngữ học, cái chân lý, mà nhờ nó ngôn ngữ có thể sống và nhà ngôn ngữ học phải khám phá trong mỗi hiện tượng ngôn ngữ để thực sự hiểu và giải thích nó.

“Lịch sử ngôn ngữ chỉ đạt đến tính khoa học, – Vossler nói – nếu nó xem xét toàn bộ chuỗi nguyên nhân thực dụng nhằm mục đích tìm trong đó một chuỗi thẩm mỹ đặc biệt, để làm sáng tỏ và dễ hiểu tư tưởng ngôn ngữ, chân lý ngôn ngữ, thị hiếu ngôn ngữ, tình cảm ngôn ngữ, hay nói như Humboldt, hình thức nội tại của ngôn ngữ, trong những biến đổi khác nhau của nó về vật lý, tâm lý, chính trị, kinh tế, và nói chung là văn hóa”.

Như vậy, ta thấy rằng, với Vossler, mọi nhân tố xác định một hiện tượng ngôn ngữ nào đó (vật lý, chính trị, kinh tế…) không có ý nghĩa trực tiếp đối với nhà ngôn ngữ học; với ông chỉ có ý tưởng nghệ thuật của hiện tượng ngôn ngữ mới quan trọng mà thôi.

Vậy đó, quan niệm về ngôn ngữ ở Vossler là thuần túy thẩm mỹ. “Ý tưởng về ngôn ngữ – ông nói – về bản chất là một ý tưởng thi ca, chân lý ngôn ngữ là chân lý nghệ thuật, một vẻ đẹp có chủ ý”.

Hoàn toàn dễ hiểu, đối với Vossler, không phải hệ thống ngôn ngữ có sẵn, với nghĩa là tập hợp các hình thức ngữ âm, ngữ pháp và các hình thức đã hoàn tất được kế thừa khác, mà hành động sáng tạo lời nói cá nhân (Sprache als Rede) mới là hiện tượng cơ bản, thực tiễn cơ bản của ngôn ngữ. Từ đó có thể suy ra, trong mỗi hành động lời nói, nhìn từ quan điểm hình thành ngôn ngữ, quan trọng không phải là các hình thức ngữ pháp, cái là chung, là ổn định và có sẵn để sử dụng, trong tất cả các phát ngôn khác nhau của ngôn ngữ ấy; quan trọng là sự cụ thể hóa và biến đổi về phong cách – mang tính cá nhân và chỉ đặc thù cho một phát ngôn cụ thể – của các hình thức trừu tượng này.

Chỉ có sự cá nhân hóa phong cách ngôn ngữ trong một phát ngôn cụ thể như thế mới có tính lịch sử và năng sản sáng tạo. Chính ở đây diễn ra sự hình thành ngôn ngữ để sau đó kết tinh thành các hình thức ngữ pháp: tất cả những gì trở thành sự kiện ngữ pháp, trước đó đều là sự kiện phong cách. Ý tưởng của Vossler rằng phong cách đi trước ngữ pháp tựu trung lại là luận điểm đó. Đa số các nghiên cứu ngôn ngữ học của trường phái Vossler nằm ở ranh giới giữa ngôn ngữ học (theo nghĩa hẹp) và phong cách học. Trong mỗi hình thức ngôn ngữ, những người theo phái Vossler đều lần lượt cố gắng phát hiện cội nguồn ý định – tư tưởng của nó.

Quan điểm triết học ngôn ngữ của Vossler và trường phái của ông về cơ bản là như vậy.

Trong số các đại biểu hiện đại của xu hướng triết học ngôn ngữ thứ nhất cũng cần phải nhắc đến nhà triết học và phê bình văn học Italia Benedetto Croce, xét ảnh hưởng to lớn của ông đối với tư tưởng triết học ngôn ngữ và nghiên cứu văn học hiện đại châu Âu.

Những ý tưởng của Benedetto Croce, về nhiều khía cạnh, gẫn gũi với những ý tưởng của Vossler. Ông cũng cho rằng ngôn ngữ là một hiện tượng thẩm mỹ. Thuật ngữ chính, then chốt, trong quan niệm của ông – đó là biểu hiện. Mọi biểu hiện đều có cơ sở là nghệ thuật. Do đó, ngôn ngữ học, với tư cách là khoa học về sự biểu hiện par excellence, trùng với mỹ học. Như vậy, có thể thấy rằng, đối với Croce hành động biểu hiện cá nhân bằng lời nói cũng là hiện tượng ngôn ngữ chủ yếu.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.N. Voloshinov – Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ – NXB ĐHQGHN 2015.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s