Nói chung, việc tài trợ cho chiến dịch được tiến hành thông qua hai hệ thống song song. Tiền trực tiếp đến với các ứng cử viên hay các đảng bị hạn chế về số lượng đóng góp và công khai hoàn toàn về nguồn. Những ứng cử viên tổng thống đã nhận các khoản tài trợ công cũng phải tuân theo những hạn chế về chi tiêu (cả Kerry và Bush đều từ chối các khoản tài trợ công cho các chiến dịch vận động bầu cử sơ bộ nhằm tránh những hạn chế về chi tiêu của FECA). Nhưng trong một hệ thống khác, tiền gây quỹ và chi tiêu bên ngoài chiến dịch vận động của đảng và ứng cử viên dưới chiêu bài vận động cho vấn đề chỉ bị điều tiết chút ít và không phải chịu giới hạn (mặc dù đạo luật năm 2002 cố gắng hạn chế việc vận động cho vấn đề của các nghiệp đoàn, công ty và các tổ chức khác trước các cuộc bầu cử). Trên thực tế, điều đó có nghĩa là bất cứ công dân nào muốn đầu tư bất cứ khoản tiền nào vào các hoạt động chiến dịch đều có cách hợp pháp để làm điều đó.

Lưu lượng tiền cho chiến dịch. Mặc dù những người đề xướng FECA ban đầu đã hy vọng kiềm chế chi phí của các chiến dịch, song lưu lượng tiền cho chiến dịch tiếp tục tăng lên nhanh chóng. Tổng tài trợ từ mọi nguồn cho các chiến dịch bầu cử tổng thống tăng từ 453 triệu USD năm 1996 lên đến 676 triệu năm 2000, và 1,262 tỷ USD năm 2004. Chi tiêu cho các chiến dịch tranh cử vào Thượng viện và Hạ viện cũng liên tục tăng lên từ khi FECA có hiệu lực, trung bình khoảng 7% (giá USD có điều chỉnh theo lạm phát) từ năm bầu cử trước sang năm bầu cử sau. Năm 2004, trung bình một chiến dịch vào Hạ viện mất 691.000 USD và Thượng viện là 5,1 triệu USD. Cả cung và cầu đều khiến chi phí tăng lên. Việc cung cấp các khoản đóng góp tiếp tục tăng lên do lợi ích mà các cuộc bầu cử mang đến là rất lớn. Những quyết định của chính phủ liên bang có tác động tới mọi khía cạnh của đời sống kinh tế – xã hội Mỹ, bởi vậy không thiếu động lực để mọi người cố gắng gây ảnh hưởng tới việc ai sẽ trúng cử và tới những gì người chiến thắng sẽ làm khi nắm quyền. Trong các cuộc bầu cử gần đây, trận chiến khốc liệt để nắm quyền kiểm soát đa số tại Quốc hội cũng đã khuyến khích đầu tư nhiều hơn vào các chiến dịch vận động. Và cầu liên tục bắt kịp tiến độ với cung. Sự khao khát của ứng cử viên đối với các khoản đóng góp cho chiến dịch tiếp tục tăng bởi chi phí để tạo ra những thông điệp hiệu quả và truyền bá tới công chúng ngày càng tăng vọt.

Số liệu chi tiêu trung bình của Hạ viện và Thượng viện đã che giấu mức khác biệt khổng lồ trong những khoản tiền dành cho từng ứng cử viên Quốc hội. Một số ứng cử viên gây quỹ và chi tiêu hàng triệu USD, trong khi những người khác phải tiến hành mọi việc hầu như với hai bàn tay trắng. Những khác biệt này xuất phát từ sự lựa chọn chiến lược của những người đóng góp và ứng cử viên. Trong quá trình tìm kiếm khoản đóng góp cho chiến dịch vận động, các ứng cử viên Quốc hội có thể tiếp cận bốn nguồn cơ bản: các cá nhân, các ủy ban hành động chính trị (PAC), tiền túi của riêng họ, và các tổ chức đảng. Thông thường, các ứng cử viên Hạ viện có được 55% ngân quỹ từ các cá nhân và khoảng 35% từ các PAC; khoảng 7 – 8% khác là tiền riêng của họ. Các ứng cử viên Thượng viện gây quỹ tương đối nhiều hơn từ các cá nhân (khoảng 60%), và ít hơn từ các PAC (khoảng 20%). Các khoản đóng góp trực tiếp của đảng chỉ chiếm khoảng 1% ngân quỹ của ứng cử viên, nhưng các đảng cũng giúp cho khoản chi tương đối lớn trong chiến dịch vận động phối hợp và đặc biệt là chiến dịch độc lập. Các ủy ban của đảng htay mặt ứng cử viên thực hiện các khoản chi phối hợp cho các hoạt động như thăm dò dư luận, làm các đoạn quảng cáo, và nghiên cứu đối thủ; tuy nhiên, tổng số tiền chi cho việc này bị hạn chế theo luật. Các khoản chi tiêu độc lập không bị giới hạn và được dành cho các hoạt động của chiến dịch (chủ yếu là quảng cáo) không bị xem là có sự phối hợp với chiến dịch của ứng cử viên dưới bất kỳ hình thức nào; những khoản chi tiêu này đã tăng đột biến vào năm 2004 sau khi BCRA bít chặt các kẽ hở về tiền mềm của đảng, lên tới tổng cộng 83 triệu USD cho các cuộc chạy đua vào Hạ viện và 39 triệu USD cho các cuộc tranh cử vào Thượng viện, lớn hơn nhiều so với mọi cuộc bầu cử trước đó.

Tất cả các nhà tài trợ đều tiến hành đóng góp với mục tiêu chiến lược nào đó, trừ ngoại lệ có thể là bản thân ứng cử viên. Họ tránh lãng phí nguồn lực cho những ứng cử viên không có hy vọng, thay vào đó đều dành khoản đóng góp cho những ứng cử viên họ ưa thích trong các cuộc chạy đua mà họ cho là sát nút – những cuộc đua mà việc vận động có thể tạo ra sự khác biệt. Các nhà tài trợ cũng thích ủng hộ những người chiến thắng mà họ có thể cần tới sự giúp đỡ sau cuộc bầu cử. Do vậy, trên thực tế, các nghị sĩ quốc hội đương nhiệm ở vào vị thế an toàn – hoặc trường hợp xấu nhất là trong các cuộc đua sít sao để tái ứng cử – luôn gặp ít phiền phức nhất trong việc gây quỹ vận động bầu cử. Số tiền họ thu hút được trên thực tế phụ thuộc rất nhiều vào việc họ nghĩ rằng mình cần bao nhiêu; họ càng cảm thấy an toàn bao nhiêu thì càng gây quỹ và chi tiêu ít chừng ấy.

Tuy nhiên, những người tranh cử với các nghị sĩ đương nhiệm gặp rất nhiều khó khăn trong việc gây quỹ, trừ phi họ có thể thuyết phục được các nhà tài trợ rằng họ có cơ hội giành chiến thắng đáng kể. Do vậy chỉ có rất ít người thách đấu làm được điều này trong mỗi năm bầu cử. Do các cuộc đua có xu hướng cạnh tranh sít sao hơn khi lợi thế của vị trí đương nhiệm không phát huy tác dụng, các ứng cử viên cạn tranh vào ghế trống thường có vị thế tốt hơn để gây quỹ. Các nhà tài trợ rất đúng khi cho rằng các cuộc cạnh tranh vào ghế trống là cơ hội tốt nhất để lấy một ghế từ tay đảng kia. Kết quả là, khảon chi tiêu trung bình cho chiến dịch tranh cử rất khác nhau tùy thuộc vào loại ứng cử viên (xem Hình 11 – 3). Các nghị sĩ đương nhiệm nhìn chung chi tiêu nhiều hơn rất nhiều so với những người thách đấu, trong khi các ứng cử viên chạy đua vào ghế trống nhiều lúc còn được tài trợ nhiều hơn các nghị sĩ đương nhiệm.

page-4-3

Việc các ứng cử viên có khả năng gây quỹ và chi tiêu bao nhiêu có ý nghĩa gì không? Điều này chỉ có ý nghĩa ở chỗ việc thiếu tiền khiến các ứng cử viên không thể đưa các thông điệp của họ đến với cử tri. Tiền đóng góp cho chiến dịch tranh cử hầu như không tác động gì tới kết quả của các cuộc bầu cử tổng thống, và điều này cũng đúng thậm chí trước cả khi ngân quỹ công đặt các ứng cử viên của đảng đa số trên một cơ sở tài chính tương đối ngang bằng. Các ứng cử viên này tối thiểu cũng được tài trợ đủ, và phương tiện truyền thông truyền tải nhiều thông tin miễn phí về các ứng cử viên tổng thống tới mức sự cân đối các nguồn lực là không thích hợp. Điều có ý nghĩa chính là cách thức phản ứng của các cử tri trước những thông điệp vận động bầu cử cạnh tranh với nhau.

Tiền đóng góp cho chiến dịch vận động cũng có ý nghĩa tại các vòng bầu cử tổng thống sơ bộ, trong đó các cử tri thờ ơ ở một mức độ nhất định không thể dựa vào mác đảng phái làm đầu mối thông tin và cần phải biết một số điều về ứng cử viên. Những ứng cử viên nổi tiếng có được lợi thế, song các đối thủ ít nổi tiếng hơn cũng cố gắng thu hút được sự chú ý của các cử tri để có được cơ hội nhất định; việc này luôn đòi hỏi phải chi những khoản tiền lớn. Diễn ra vào tháng Hai, khi bắt đầu mùa bầu cử sơ bộ, các phiên họp kín của Iowa và vòng bầu cử sơ bộ tại New Hampshire đã từng mang lại cho những ứng cử viên vô danh như Jimmy Carter (1976) và Bill Clinton (1992) cơ hội vận dụng thành công tương đối ít tốn kém của mình lúc đầu để gây quỹ lớn cho các vòng bầu cử sơ bộ tiếp theo. Nhưng hiện nay, với việc rất nhiều bang tổ chức các vòng bầu cử sơ bộ vào tháng Ba, các ứng cử viên hầu như không có thời gian để khai thác thành công ngoài dự kiến và không thể cạnh tranh có hiệu quả nếu không thu hút được những khoản tiền lớn trước khi năm bầu cử bắt đầu. Năm 1999, việc George W. Bush dẫn đầu từ rất sớm trong các cuộc thăm dò dư luận đã giúp thúc đẩy khả năng gây quỹ vốn đã rất lớn của ông, tới mức mà vào tháng Sáu, ông đã vượt lên tất cả các đối thủ khác về khả năng tài chính, trừ ứng cử viên tự tài trợ là Steve Forbes. Hầu hết ứng cử viên khác đều không đạt được mục tiêu gây quỹ, tạo ra sự nghi ngờ lớn đối với triển vọng cạnh tranh có hiệu quả của họ.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Lôgích chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s