Kể từ ngày 20/5/2016, sự chính thức “lên ngôi” của Thái Anh Văn – người được ví là “Angela Merkel của Phương Đông”, và đảng Dân tiến (DPP) – chính đảng “xanh lục” luôn ủng hộ chủ trương ly khai khỏi Trung Quốc Đại lục (hay còn gọi là xu hướng “Đài độc”), sẽ đánh dấu một “kỷ nguyên bất ổn” (theo cách gọi của Thời báo Hoàn Cầu) hay “hòa bình lạnh” trong mối quan hệ vốn đầy rẫy phức tạp và sóng gió giữa hai bờ? Tổng hợp về những dự báo của dư luận trong và ngoài địa bàn Trung Quốc của TTXVN.

Rào cản đối với những động thái phiêu lưu của các thế lực “Đài độc”

Phần đông giới quan sát trong và ngoài địa bàn đều thống nhất cho rằng Thái Anh Văn và DPP sau khi lên nắm quyền lãnh đạo Đài Loan sẽ tiếp tục duy trì ổn định quan hệ hai bờ, đồng thời dựa vào Đại lục để phục vụ cho các chính sách phục hồi nền kinh tế. Các nhà phân tích nhận định rằng nhu cầu phục hồi nền kinh tế và xử lý thỏa đáng mối quan hệ với Đại lục là 2 thách thức lớn nhất đối với Thái Anh Văn và chính quyền mới của Đài Loan. Nền kinh tế của khu vực lãnh thổ này trong 2 năm qua chỉ đạt mức tăng trưởng 1% kim ngạch xuất khẩu đang lâm vào tình trạng tăng trưởng âm trong 15 tháng liên tiếp, bên cạnh đó còn là những diễn biến nghiêm trọng trong vấn đề mất cân bằng thu nhập, tình trạng bong bóng bất động sản, thất nghiệp (4%), sự yếu kém của các doanh nghiệp bản địa… Với vai trò là đối tác thương mại lớn nhất (chiếm tới 38% tổng kim ngạch xuất khẩu của Đài Loan nếu tính cả thị trường Hong Kong, và đóng góp tới 70% tổng thặng dư thương mại hàng năm của hòn đảo này, tính trung bình khoảng 70 tỷ USD theo thống kê của Bộ Tài chính Đài Loan), thị trường du lịch lớn nhất (chiếm tới trên 40% tổng lượng khách du lịch quốc tế đến Đài Loan trong năm 2015) và là thị trường đầu tư lớn nhất của Đài Loan (96.036 dự án với tổng số vốn thực hiện là 63,29 tỷ USD tính tới thời điểm cuối tháng 3/2016 theo thống kê của cơ quan chức năng Trung Quốc), Đại lục chắc chắn sẽ tiếp tục đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong những chính sách vực lại nền kinh tế Đài Loan của chính quyền mới. Bên cạnh đó, nền kinh tế hai bờ ngày càng cho thấy xu hướng phụ thuộc chặt chẽ với nhau, sự tụt dốc của nền kinh tế Trung Quốc đã và đang ảnh hưởng hết sức tiêu cực đối với nền kin tế Đài Loan. Theo số liệu của Bộ Thương mại Trung Quốc, tốc độ sụt giảm cán cân xuất nhập khẩu giữa hai bờ trong quý I/2016 đã lên tới 11,5% (so với cùng kỳ năm 2015), nằm ở mức 37,5 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu của Đài Loan sang Đại lục giảm 11,7% xuống còn 25,35 tỷ USD. Do vậy, bất cứ động thái cứng rắn nào trong chính sách đối với Đại lục cũng sẽ đều dẫn đến những đòn trừng phạt về kinh tế, chính trị và ngoại giao từ Bắc Kinh, khiến những nỗ lực giải quyết các vấn đề kinh tế – xã hội của bn lãnh đạo mới của Đài Loan trở nên bất khả thi. Thất bại nặng nề của Quốc dân đảng (KMT) trên chính trường Đài Loan thời gian qua phần lớn do khả năng yếu kém trong điều hành nền kinh tế chính là bài học nhãn tiền đối với Thái Anh Văn và DPP. Vì vậy, không gian lựa chọn đối sách của tân tổng thống và êkíp lãnh đạo mới của Đài Loan đối với Đại lục là tương đối hạn chế, và lựa chọn tất yếu trước mắt sẽ là duy trì ổn định quan hệ hai bờ và tiếp tục hợp tác với Đại lục.

Ngoài ra, lập trường “Đài độc” của chính quyến mới nhiều khả năng sẽ không gay gắt như dưới thời Trần Thủy Biển. Một số diễn biến gần đây cho thấy nội bộ DPP đang có xu hướng phai nhạt dần sắc “xanh lục”, bởi số lượng các phần tử “Đài độc” cực đoan rời bỏ DPP (do không chấp nhận chính sách tăng cường đối thoại và hợp tác với Đại lục) là không nhiều trong khi số lượng nhân vật theo đường lối trung dung trong quan hệ với Đại lục lại đang tăng cao. Mặt khác, Thái Anh Văn, được phần đông dư luận đánh giá, cũng là một chính trị gia thông minh, có khả năng ứng biến tốt, nhiều “thủ thuật” hơn so với cựu tổng thống thuộc DPP – Trần Thủy Biển, và đương nhiên là có rất nhiều kinh nghiệm đàm phán với Đại lục. Từ những nhận định nói trên, phần lớn giới nghiên cứu trong và ngoài địa bàn đều cho rằng Thái Anh Văn và chính quyền mới của Đài Loan thời gian tới sẽ triển khai những chính sách mềm mỏng và linh hoạt hơn, so với Chính quyền Trần Thủy Biển trước đây, đối với Đại lục.

Những ẩn họa đối với quan hệ hai bờ

Kể từ giai đoạn tranh cử đến khi chính thức trở thành nhà lãnh đạo cao nhất của Đài Loan, Thái Anh Văn luôn giữ lập trường mập mờ trong quan hệ với Đại lục, một mặt khẳng định giữ nguyên hiện trạng quan hệ hai bờ, “tôn trọng sự thật lịch sử” của cuộc đàm phán Cô – Uông năm 1992, tuân thủ Hiến pháp Đài Loan cũng như “Đạo luật quản lý quan hệ giữa nhân dân Đài Loan và Đại lục” (trong đó có nguyên tắc “một nước Trung Quốc”) và để ngỏ khả năng đối thoại với Đại lục, song mặt khác không trực tiếp khẳng định sự tuân thủ đối với “Nhận thức chung năm 1992” và những nội dung trong đó (cũng nhấn mạnh tới nguyên tắc “một nước Trung Quốc”). Bên cạnh đó, Thái Anh Văn kể từ lúc đắc cử đến khi chính thức nhậm chức cũng luôn thể hiện thái độ không kém phần cứng rắn trong chính sách đối với Đại lục, thể hiện ở những điểm như: (1) Lấy ý nguyện của người dân Đài Loan là cơ sở quan trọng để quyết định quan hệ hai bờ trong tương lai; (2) Đòi hỏi Bắc Kinh phải tôn trọng hệ thống dân chủ, bản sắc dân tộc và không gian sinh tồn quốc tế của Đài Bắc; (3) Nhấn mạnh bất cứ hình thức gây sức ép nào sẽ đều có hại đối với sự ổn định trong quan hệ hai bờ. Những tuyên bố trên một mặt cho phép Thái Anh Văn linh hoạt điều chỉnh chính sách “giữ nguyên hiện trạng” hiện nay, một mặt tranh thủ sự ủng hộ của các thế lực “Đài độc”. Vì vậy, quan hệ hai bờ thời gian tới sẽ diễn biến hết sức phức tạp và khó lường.

Xu hướng “Đài độc” – được Trung Quốc coi là “tai họa lớn nhất đối với hòa bình ở eo biển Đài Loan và sự phát triển hòa bình giữa hai bờ” (trích nguyên văn lời của người phát ngôn Văn phòng Công tác Đài Loan thuộc Quốc vụ viện Trung Quốc ngày 20/5/2016) – ngày càng trở nên rõ nét trong đời sống chính trị – xã hội ở hòn đảo này. Theo giới quan sát, một trong những nguyên nhân lớn nhất khiến KMT thất thế trong cuộc tổng tuyển cử vừa qua ở Đài Loan là chính sách “thân Trung Quốc” quá mức, khiến nhiều cử tri (đặc biệt là giới thanh niên) lo ngại Đài Loan sẽ ngày càng phụ thuộc chặt chẽ vào Trung Quốc và sẽ dần bị Đại lục thôn tính. “Phong trào Hoa hướng dương” năm 2014 chính là biểu hiện rõ nét nhất tư tưởng phản kháng của một bộ phận không nhỏ thanh niên Đài Loan đối với những ảnh hưởng của Trung Quốc. Theo kết quả của một số cuộc điều tra dư luận xã hội tại Đài Loan, số lượng người trong độ tuổi dưới 30 có quan điểm cho rằng bản thân minh là người Đài Loan (thay vì là người Trung Quốc) ngày càng tăng.

(còn tiếp) 

Nguồn: TLTKĐB – 28/05/2016

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s