Ở đây, ta có thể sử dụng một phép tương tự tuy thô sơ nhưng cũng thể hiện đủ chính xác mối quan hệ của xu hướng tư tưởng triết học ngôn gnữ thứ hai với lịch sử ngôn ngữ. Hãy so sánh hệ thống ngôn ngữ với công thức để giải nhị thức Newton. Bên trong công thức này ngự trị một quy luật nghiêm ngặt, buộc mỗi thành phần đều phải tuân theo và biến chúng thành hằng số. Giả sử một học sinh khi sử dụng đã viết sai công thức đó (chẳng hạn, nhầm các chỉ số và ký hiệu) và nhận được một công thức mới với quy luật bên trong của nó (công thức này tất nhiên là không dùng để giải nhị thức Newton được, nhưng đối với phép tương tự của chúng ta, điều đó không quan trọng). Giữa công thức đầu tiên và công thức thứ hai hoàn toàn không có bất kỳ mối liên hệ toán học nào tương tự mối liên hệ chi phối bên trong mỗi công thức.

Trong ngôn ngữ học cũng giống hệ như vậy. Những mối quan hệ hệ thống, liên kết hai hình thức ngôn ngữ trong một hệ thống ngôn ngữ (tại một thời điểm nhất định) không có gì là chung với các mối quan hệ ràng buộc một trong các hình thức đó với diện mạo thay đổi của nó vào thời điểm tiếp theo của lịch sử phát triển ngôn ngữ. Cho đến thế kỷ XVI, người Đức vẫn chia động từ: ich was, wir waren. Người Đức hiện đại chia: ich war, wir waren. Như vậy, “ich was” đã thay đổi thành “ich war”. Giữa các hình thức “ich was” – “wir waren” và “ich war” – “wir warren” tồn tại một mối liên hệ ngôn ngữ có hệ thống và bổ sung lẫn nhau. Cụ thể, chúng liên hệ và bổ sung cho nhau với tư cách là cách chia ở ngôi thứ nhất số ít và số nhiều của cùng một động từ. Giữa “ich was” – “ich war” (Thế kỷ XV – XVI) và “ich war” – “wir waren” (hiện nay) tồn tại một mối quan hệ khác, rất đặc biệt, hoàn toàn không có gì chung với quan hệ hệ thống thứ nhất. Hình thức “ich war” được tạo nên theo cách tương tự với “wir warren”: thay vì “ich was” dưới ảnh hưởng của “wir warren”, người ta (một số cá nhân) tạo nên “wir war”. Hiện tượng dần trở nên phổ biến rộng rãi, và kết quả là lỗi cá nhân đã trở thành chuẩn mực ngôn ngữ.

Như vậy, giữa hai dãy:

I – “ich was” – “ich waren” (tại một khoảng đồng đại, chẳng hạn, thế kỷ XV), hoặc “ich war” – “wir waren” (vào một khoảng đồng đại, chẳng hạn thế kỷ XIX) và

II –  “ich was” – “ich war” // “wir waren” (Với tư cách là một nhân tố thúc đẩy phép tương tự) có một sự khác biệt nguyên tắc sâu xa. Chuỗi thứ nhất – đồng đại – được điều chỉnh bởi mối quan hệ ngôn ngữ có hệ thống giữa các yếu tố cần thiết và bổ sung lẫn nhau. Chuỗi này hiện diện đối với cá nhân như là các quy tắc bất di bất dịch của ngôn ngữ. Chuỗi thứ hai – mang tính lịch sử (hay lịch đại) – được điều chỉnh bởi quy luật đặc biệt của nó, hay nói chặt chẽ là bởi quy luật của các lỗi do phép tương tự gây ra.

Logic của lịch sử ngôn ngữ – đó là logic của những sai sót hoặc sai lệch cá nhân (sự chuyển hóa “ich was” thành “ich war”), diễn ra bên ngoài ý thức cá nhân. Một sự chuyển tiếp không chủ ý và chỉ được nhận thấy chừng nào nó đã diễn ra. Ở mỗi thời đại nhất định, chỉ có thể tồn tại một chuẩn mực ngôn ngữ: “ich was” hoặc “ich war”. Bên cạnh chuẩn mực chỉ có thể tồn tại sự vi phạm chuẩn mực, chứ không thể có chuẩn mực khác, trái với nó (đó là lý do không thể có “bi kịch” ngôn ngữ). Nếu sự vi phạm không được cảm thấy, không được sửa chữa, và nếu có cơ sở thuận lợi để sự vi phạm này có thể trở thành phổ biến – trong trường hợp của chúng, cơ sở thuận lợi là phép tương tự – thì sự vi phạm sẽ trở thành chuẩn mực ngôn ngữ.

Như vậy, giữa logic của ngôn ngữ như là một hệ thống hình thức và logic của lịch sử phát triển ngôn ngữ không có mối liên hệ nào, không có gì chung. Hai lĩnh vực được điều chỉnh bởi hai quy luật hoàn toàn khác nhau, các nhân tố khác nhau. Cái đem lại ý nghĩa và tính thống nhất ngôn ngữ trong khuôn khổ đồng đại của nó là bị vi phạm và bỏ qua trong khuôn khổ lịch đại. Hiện trạng của ngôn ngữ và lịch sử của nó không hiểu và không có khả năng hiểu nhau.

Ở đây, ở điểm chính này, chúng ta nhận thấy sự khác biệt sâu sắc nhất giữa xu hướng thứ nhất và xu hướng thứ hai của triết học ngôn ngữ. Bởi lẽ, với xu hướng thứ nhất, bản chất được bộc lộ qua lịch sử. Logic của ngôn ngữ – nói chung không phải là logic lặp lại các hình thức đồng nhất quy chuẩn, mà là sự đổi mới không ngừng, sự cá nhân hóa các hình thức này thông qua các phát ngôn không lặp lại về phong cách. Thực tiễn ngôn ngữ chính là sự hình thành của nó. Có một sự hiểu nhau trọn vẹn giữa một thời điểm nhất định trong cuộc đời ngôn ngữ và lịch sử của nó. Và ở cả hai đều ngự trị cùng những động cơ tư tưởng ấy: nói theo ngôn ngữ của Vossler – thị hiếu ngôn ngữ tạo ra tính thống nhất của một ngôn ngữ tại một thời điểm nhất định; nó cũng tạo ra và bảo đảm sự thống nhất của lịch sử phát triển ngôn ngữ. Sự chuyển đổi từ một hình thức lịch sử sang một hình thức lịch sử khác diễn ra chủ yếu trong ý thức cá nhân, bởi vì, như chúng ta biết, theo Vossler, mọi hình thức ngữ pháp thoạt đầu đều là hình thức phong cách tự do.

Sự khác biệ giữa xu hướng thứ nhất và xu hướng thứ hai có thể được minh họa rất rõ ràng qua những điều sau đây: các hình thức tự đồng nhất tạo nên một hệ thống cố định của ngôn ngữ (ergon), đối với xu hướng thứ nhất, chỉ là trầm tích đông cứng của sự hình thành ngôn ngữ thực sự – tức là bản chất thực sự của ngôn ngữ, được thực hiện bởi hành động sáng tạo cá nhân không lặp lại. Nhưng đối với xu hướng thứ hai, chính hệ thống các hình thức tự đồng nhất đó lại trở thành bản chất của ngôn ngữ; sự khúc xạ và biến đổi mang tính sáng tạo, cá nhân, của các hình thức ngôn ngữ, đối với xu hướng thứ hai, đơn thuần là thứ rác rưởi của cuộc đời ngôn ngữ, hay nói đúng hơn, của tính bất biến uy nghi của ngôn ngữ, chỉ là thứ ngoại âm khó có thể nắm bắt và không cần thiết đối với âm điệu bất biến của hình thức ngôn ngữ.

Quan điểm cơ bản của xu hướng thứ hai, nói chung, có thể quy về những luận điểm cơ bản sau đây:

1 – Ngôn ngữ là một hệ thống ổn định, bất biến của các hình thức ngôn ngữ tự đồng nhất quy chuẩn, có trước và không bị ảnh hưởng bởi ý thức cá nhân.

2 – Các quy luật ngôn ngữ về bản chất là các quy luật ngôn ngữ học đặc thù của mối quan hệ giữa các ký hiệu ngôn ngữ bên trong một hệ thống khép kín. Các quy luật này là khách quan đối với mọi ý thức chủ quan.

3 – Các quy luật của mối quan hệ ngôn ngữ đặc thù không có gì chung với các giá trị tư tưởng (nghệ thuật, nhận thức…). Các hiện tượng ngôn ngữ không có động cơ tư tưởng. Giữa từ và ý nghĩa của nó không hề có mối quan hệ đơn nhất nào có thể hiểu được bằng tri thức, cũng không có quan hệ nào về mặt nghệ thuật.

4 – Các hành động nói cá nhân, nhìn từ quan điểm ngôn ngữ, chỉ là các khúc xạ và biến thể hoặc đơn thuần là biến dạng ngẫu nhiên của các hình thức tự đồng nhất quy chuẩn: nhưng chính những hành động nói cá nhân này giải thích sự thay đổi lịch sử của các hình thức ngôn ngữ – mà, trên thực tế, nhìn từ quan điểm hệ thống ngôn ngữ, là phi lý và vô nghĩa. Giữa hệ thống ngôn ngữ và lịch sử của nó không có liên hệ, cũng không có điểm chung về động cơ. Chúng xa lạ với nhau.

Bạn đọc có thể thấy rằng bốn luận điểm cơ bản của xu hướng triết học ngôn ngữ thứ hai mà chúng ta vừa trình bày chính là phản đề của bốn luận điểm cơ bản của xu hướng thứ nhất.

Nguồn gốc lịch sử của xu hướng thứ hai

Việc tìm lại hành trình lịch sử của xu hướng thứ hai khó khăn hơn rất nhiều. Xu hướng này, vào buổi bình minh của thời đại chúng ta, không có các đại diện và các nhà lập thuyết với tầm vóc của von Humboldt. Cội rễ của xu hướng này cần phải tìm ở chủ nghĩa duy lý thế kỷ XVII và XVIII. Những cội rễ này bắt nguồn từ nền đất của tư tưởng Descartes.

Những ý tưởng của xu hướng thứ hai được thể hiện lần đầu tiên và cũng rất rõ ràng ở Leibniz qua khái niệm ngữ pháp phổ quát.

Ý tưởng về tính quy ước, tính võ đoán của ngôn ngữ là hết sức đặc trưng cho toàn bộ chủ nghĩa duy lý; và không ít đặc trưng hơn là sự so sánh hệ thống ngôn ngữ với hệ thống ký hiệu toán học. Cái mà trí tuệ, được định hướng bởi toán học, của các nhà duy lý quan tâm không phải là mối quan hệ của ký hiệu với thực tại được nó phản ánh, hoặc với cá nhân tạo ra nó, mà là mối quan hệ giữa các ký hiệu bên trong một hệ thống khép kín, được giả định và mặc nhiên chấp nhận. Nói cách khác, họ chỉ quan tâm đến logic nội tại của bản thân hệ thống các ký hiệu, như trong môn đại số, hoàn toàn không phụ thuộc vào giá trị tư tưởng của các ký hiệu. Các nhà duy lý cũng có tính đến quan điểm của người hiểu, nhưng họ ít chú ý hơn cả đến quan điểm của người nói, với tư cách là chủ thể thể hiện cuộc sống nội tâm. Bởi lẽ ký hiệu toán học là cái ít có khả năng nhất để được diễn giải như là biểu hiện của nội tâm cá nhân – mà ký hiệu toán học, đối với các nhà duy lý, là hình thức lý tưởng của tất cả các ký hiệu, bao gồm cả ký hiệu ngôn ngữ. Tất cả những điều này được thể hiện rất rõ ràng trong ý tưởng ngữ pháp phổ quát của Leibniz.

Ở đây, cần lưu ý rằng, đề cao quan điểm của người hiểu so với quan điểm của người nói là đặc điểm không đổi của xu hướng thứ hai. Do đó, dựa trên cơ sở của xu hướng này, ta không có phương pháp tiến cận đối với vấn đề biểu đạt, và vì thế, cả với sự hình thành ý tưởng và tâm lý chủ quan trong từ (một trong những vấn đề chính của xu hướng thứ nhất).

Dưới một hình thức giản lược hơn, ý tưởng về ngôn ngữ như một hệ thống các ký hiệu quy ước võ đoán được các đại biểu của thời Khai sáng phát triển trên nền tảng duy lý vào thế kỷ XVIII.

Nảy sinh ở Pháp, các ý tưởng của chủ nghĩa khách quan trừu tượng cho đến nay vẫn thống trị tại Pháp. Bỏ qua các giai đoạn phát triển trung gian, chúng ta hãy đi thẳng đến các đặc điểm hiện đại của xu hướng thứ hai.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.N. Voloshinov – Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ – NXB ĐHQGHN 2015.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s