2/ Bối cảnh kinh tế vĩ mô

Quá trình hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu đã bắt đầu ở Việt Nam từ năm 1986 với việc thực thi cuộc cải cách kinh tế “Đổi mới”, nhằm mục tiêu khởi động công cuộc phục hồi hệ thống kinh tế Việt Nam, ở thời điểm đó còn dựa trên một chiến lược kế hoạch hóa tập trung được hậu thuẫn bởi nguồn viện trợ từ Xôviết. Việc thu hút nguồn vốn FDI đã trở thành một yếu tố chủ chốt của các cuộc cải cách hồi năm 1986 và tiếp tục được tăng cường trong giai đoạn nừa đầu những năm 1990, với tính cách một hợp phần tạo thành gói cải cách tự do hóa giúp chuyển đổi sang một nền kinh tế thị trường trên cơ sở một chiến lược tăng trưởng kinh tế định hướng xuất khẩu (Xuan & Xing 2008). Trong số các giải pháp can thiệp trọng yếu đáng chú ý có việc kêu gọi thiết lập các khu vực sản xuất hàng hóa xuất khẩu, phá giá tiền tệ, loại bỏ hầu hết các khoản thuế nhập khẩu và các rào cản phi thuế quan, giảm trừ các hạn mức và các hợp nhóm thuế quan, đồng thời hạ thấp mức thuế nhập khẩu. Cuối cùng, việc tiến hành đàm phán một số hiệp định thương mại với các quốc gia châu Á khác (Khu vực Thương mại tự do ASEAN), với Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ, cũng như việc gia nhập WTO vào năm 2007 đã chiếm giữ một vai trò quan trọng trong những năm gần đây.

Các nỗ lực cải cách đã mang lại nhiều thành quả: FDI tăng mạnh – 3/4 tổng lượng vốn được đầu tư vào khu vực sản xuất công nghiệp, còn tỷ lệ hàng hóa xuất khẩu trong GDP đã tăng từ mức 10% hồi đầu những năm 1990 lên mức 60% trong giai đoạn giữa những năm 2000 (Xuan & Xing 2008). Nhiều doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đã định hướng xuất khẩu; ở giai đoạn giữa những năm 2000, khoảng 55% lượng hàng xuất khẩu của Việt Nam có nguồn gốc từ các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (Athukorala & Tien 2012). Định hướng xuất khẩu rõ nét của khu vực sản xuất công nghiệp (chiếm 3/4 tổng lượng hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam) và sự tùy thuộc hệ quả vào số doanh thu có được từ thị trường nước ngoài hơn là từ thị trường nội địa trên thực tế đã khiến nó trở thành một khu vực sản xuất xuất hiện cả cơ hội lẫn các mối đe dọa của quá trình toàn cầu hóa. Hơn thế, các công ty đầu tư nước ngoài cũng là các nhân tố có ảnh hưởng chi phối khi tạo ra được gần một nửa tổng sản lượng của khu vực sản xuất (Athukorala & Tien 2012). Sự hiện diện rõ ràng của nguồn vốn FDI ở khu vực sản xuất công nghiệp không đương nhiên hàm nghĩa các khoản đầu tư đã được biến chuyển thành những cơ hội và nguồn lợi lớn hơn cho các hộ gia đình người Việt với tác động tích cực tất yếu đối với sự tiến triển và một vị thế kinh tế – xã hội tốt đẹp hơn. Bất chấp phần đóng góp đáng kể cho tổng sản lượng cuối cùng, trên thực tế, năm 2008, chỉ có 22,4% số lao động làm việc trong khu vực sản xuất được tuyển dụng vào các công ty đầu tư nước ngoài. Ngoài ra, các chủ doanh nghiệp nước ngoài cũng chỉ sở hữu 17,4% tổng tài sản cố định phục vụ cho hoạt động sản xuất (Athukorala & Tien 2012). Đó là do tình trạng năng suất cao nhưng giá trị thặng dư thấp gắn với các hình thức đầu tư này, và do thực tế là các nhà đầu tư nước ngoài ở Việt Nam vốn tạo lập những mối quan hệ gắn kết rất hạn hẹp với người bản địa khi nguồn nguyên liệu đầu vào của họ chủ yếu đều được nhập khẩu từ nước ngoài.

Bất chất các tỷ lệ tăng trưởng mạnh mẽ – đặc biệt ở khu vực công nghiệp, trong hầu hết các năm đều vượt hơn tổng lượng tăng trưởng GDP – quá trình chuyển đổi về mặt cơ cấu của nền kinh tế vẫn đang diễn ra với một tốc độ vô cùng chậm chạp. Công nghiệp và việc làm trong khu vực công nghiệp đã tăng tiến nhờ vào nguồn lực của lĩnh vực nông nghiệp, nhưng sự chuyển biến này vẫn còn khiêm tốn và không thực sự rõ nét (Bảng 1). Cụ thể, khi  khảo xét vấn đề việc làm trong khu vực công nghiệp, cần lưu ý sự tồn tại của một xu hướng không mấy rõ ràng từ năm 2002 đến năm 2012, chứng thực một sự sụt giảm đáng kể số lao động làm việc trong khu vực này trong khảong năm 2006 (20,2%) và năm 2008 (14,4%), sau đó lại tăng mạnh và đạt tỷ lệ tối đa ở giai đoạn 2010 (25%). Hơn thế nữa, sự suy giảm mức đóng góp cho GDP của ngành công nghiệp và sự gia tăng mức đóng góp của ngành nông nghiệp từ năm 2007 đến năm 2008 đã cho thấy, khu vực công nghiệp vốn được tạo thành bởi các ngnàh nghề còn non trẻ, chưa thực sự được năng động để đối diện với các xu thế mang tính toàn cầu.

20161227-154710_p0

Mặc dù quá trình chuyển đổi về mặt cơ cấu đang tiến triển với một tốc độ chậm chạp, đặc biệt là bước quá độ định hướng nhiều việc làm hơn trong ngành công nghiệp, nhưng những thay đổi vẫn đang diễn ra. Tính hoạt biến thể hiện ở phương diện việc làm đã cung cấp những hiểu biết sâu sắc về quá trình chuyển đổi cơ cấu của nền kin tế và thị trường lao động Việt Nam. Trong giai đoạn giữa năm 2002 và 2006, lĩnh vực công nghiệp đã thể hiện được tính hoạt biến ở mức cao nhất, nhấn mạnh quá trình chuyển đổi của Việt Nam (Bảng 2). Song, ở cuối giai đạon được phân tích, tính hoạt biến lại chuyển hướng tiêu cực. Sự thay đổi này là do sự sụt giảm số lượng việc làm trong khu vực công nghiệp gây ra. Trong khi đó, tính hoạt biến thể hiện xu hướng tích cực trong khu vực nông nghiệp đã cho thấy đây vẫn là hậu tố quan trọng trong những thời kỳ bất ổn. Thêm vào đó, tính hoạt biến thể hiện trong tổng lượng việc làm đã giúp làm thí dụ minh họa cho mô hình tăng trưởng tổng quát: ở giai đoạn đầu những năm 2000 (giai đoạn hậu kỳ của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á), tính hoạt biến thể hiện ở khía cạnh việc làm còn khiêm tốn; nó đã tăng cao vào giai đoạn giữa những năm 2000, rồi lại bất ngờ sụt giảm do sự bộc phát của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.

20161227-154710_p1

Nỗ lực thu hút nguồn vốn FDI của ngành công nghiệp đã khiến nó trở thành khu vực sản xuất được toàn cầu hóa ở cấp độ cao nhất trong nền kinh tế Việt Nam, và do vậy có thể bộc lộ vai trò quan trọng của các công ty đã được toàn cầu hóa trong việc tạo ra công ăn việc làm. Tính hoạt biến trong phương diện việc làm, theo đó là sức tăng trưởng về việc làm của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong khu vực công nghiệp đã vượt xa tính hoạt biến của các doanh nghiệp nội địa (Bảng 2). Hơn thế, tính hoạt biến theo hướng tiêu cực trong phương diện việc làm của các doanh nghiệp công nghiệp thuộc sở hữu nhà nước và tính hoạt biến theo hướng tích cực của các doanh nghiệp sở hữu tư nhân đã giúp chứng tỏ các bài học kinh nghiệm của Việt Nam cũng thay đổi trong khuôn khổ lĩnh vực công nghiệp, và không chỉ thay đổi giữa các ngành nghề sản xuất như đã đề cập đến ở trên (Jenkins 2010). Một minh chứng cho điều này là sau khi Hiệp định Thương mại song phương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ có hiệu lực vào tháng 12/2001, đã có những thay đổi sâu sắc trong khu vực sản xuất tư nhân. Người lao động ở các doanh nghiệp thuộc sở hữu hộ gia đình đã trở thành các nhân công chính thống hơn, có xu hướng trở thành lực lượng nhân công củ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (McCaig & Pavenik 2013).

Các tỷ lệ tăng trưởng xét theo ngành nghề và số lượng việc làm, cũng như tính hoạt biến thể hiện trong phương diện việc làm đã giúp chứng tỏ nền kinh tế Việt Nam đang từng bước hướng đến việc tạo ra các công ăn việc làm thuộc lĩnh vực công nghiệp không chịu sự chi phối của nhà nước. Tính hoạt biến về phương diện việc làm của ngành công nghiệp cho thấy khu vực kinh tế (đặc biệt nếu có nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài) là một động lực thúc đẩy việc tạo ra công ăn việc làm. Tuy nhiên, điều quan trọng không thể không ghi nhớ chính là động lực này chỉ diễn ra với cường độ thấp, và nông nghiệp vẫn là khu vực kinh tế tạo ra công ăn việc làm cho đại đa số người dân Việt Nam. Thêm vào đó, chiến lược phát triển dựa vào xuất khẩu còn khiến nền kinh tế phụ thuộc nhiều hơn vào các xu thế toàn cầu, được phản ánh qua tốc độ tăng trưởng và khả năng hoạt biến thấp hơn (hoặc thậm chí chuyển hướng tiêu cực) vào năm 2008. Việc phân tích sự tiến triển xã hội, do đó, được đặt trong bối cảnh nền kinh tế thực hiện quá trình chuyển đổi và bất ổn bởi những cuộc khủng hoảng từ bên ngoài.

(còn tiếp) 

Người dịch: Mai Diên Nhi

Nguồn: I. Brand-Weiner, F. Francavilla & M. Olivari – Globalisation in Vietnam: An Opportunity for Social Mibility? – Asia and the Pacific Policy Studies, 2015

TN 2016 – 1, 2 & 3

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s