Các đại diện đương đại của chủ nghĩa khách quan trừu tượng

Sự thể hiện nổi bật nhất của chủ nghĩa khách quan trừu tượng hiện nay là cái gọi là “Trường phái Geneva” của Ferdinand de Saussure (đã mất khá lâu). Các đại diện của trường phái này, đặc biệt là Charles Bally, là những nhà ngôn ngữ học lớn nhất thời hiện đại, F. de Saussure đã làm cho tất cả các ý tưởng của xu hướng này trở nên rõ ràng và khúc chiết đáng kinh ngạc. Những khái niệm cơ bản của ngôn ngữ học do ông phát triển có thể được coi là kinh điển. Hơn nữa, Saussure đã quả cảm đẩy tư tưởng củ mình đến cùng, đem đến cho tất cả các nhánh của chủ nghĩa khách quan trừu tượng độ sắc sảo và tính chính xác cao độ.

Ở Nga, trường phái Vossler không phổ biến chừng nào thì trường phái Saussure lại phổ biến và có ảnh hưởng chừng ấy. Có thể nói rằng đa số các đại diện của tư tưởng ngôn ngữ học Nga chịu ảnh hưởng quyết định của Saussure và các môn đệ của ông – Bally và Sechehaye.

Về đặc trưng các quan niệm của Saussure, vì tầm quan trọng nền tảng của chúng đối với toàn bộ xu hướng thứ hai và đối với tư duy ngôn ngữ học Nga, chúng ta sẽ thảo luận chi tiết hơn. Tuy vậy, ngay cả ở đây chúng ta cũng sẽ chỉ giới hạn vào những luận điểm triết học ngôn ngữ cơ bản của Saussure.

Xuất phát điểm của Saussure là sự phân biệt ba khía cạnh của ngôn ngữ: lời nói (langage), ngôn ngữ như là một hệ thống hình thức (langue) và hành động nói cá nhân – phát ngôn (parole). Ngôn ngữ (với nghĩa là hệ thống các hình thức) và phát ngôn (parole) là các bộ phận cấu thành của ngôn ngữ nói, hiểu theo nghĩa tổng thể tất cả các hiện tượng, không có ngoại lệ – vật lý, sinh lý, tâm lý – tham gia thực hiện hoạt động nói.

Với Saussure, lời nói (langage) không thể là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học. Tự thân nó thiếu tính thống nhất nội tại và tính quy luật độc lập. Nó hỗn hợp và không đồng nhất. Thành phần mâu thuẫn của nó rất khó khảo sát. Nếu dựa trên cơ sở của nó, việc đưa ra một định nghĩa rõ ràng về sự kiện ngôn ngữ là không thể. Lời nói không thể là xuất phát điểm của phân tích ngôn ngữ.

Vậy đường lối phương pháp luận đúng đắn để khu biệt đối tượng nghiên cứu đặc thù của ngôn ngữ học mà Saussure đề xuất là gì? Hãy đọc chính những lời của ông:

“Chúng tôi nghĩ rằng – ông viết – chỉ có một giải pháp cho tất cả những mâu thuẫn này (tức là, những mâu thuẫn bên trong “langage”, như là xuất phát điểm của phân tích. V. Voloshinov): đó là ngay từ đầu phải đứng vững trên mảnh đất của ngôn ngữ (langue), coi nó là chuẩn của mọi hiện tượng khác của lời nói (langage). Trên thực tế, giữa những mâu thuẫn và tính nước đôi như thế, chỉ duy nhất ngôn ngữ có thể được định nghĩa độc lập, và duy nhất nó mới cung cấp cho tư duy một điểm tựa đủ vững vàng”.

Vậy, theo Saussure, đâu là sự khác biệt cơ bản giữa lời nói (langage) và ngôn ngữ (langue)?

“Xét toàn thể, lời nói đa dạng và không đồng nhất. Liên quan đến nhiều lĩnh vực, cùng một úc là hiện tượng vật lý, sinh lý và tâm lý, nó lại còn thuộc về cả lĩnh vực cá nhân lẫn lĩnh vực xã hội; lời nói không cho phép ta xếp nó vào bất kỳ một phạm trù xác định nào của các hiện tượng nhân văn, bởi chúng ta không biết làm thế nào để tìm ra tính thống nhất của nó.

“Ngôn ngữ, trái lại, tự thân nó đã trọn vẹn, tự nó đã có nguyên tắc phân loại. Ngay khi chúng ta dành cho nó vị trí đầu tiên trong các hiện tượng lời nói, chúng ta đã đưa ra một cấu trúc tự nhiên, một trật tự trong tập hợp, không tuân theo bất kỳ phân loại nào khác”.

Như vậy, theo Saussure, cần phải xuất phát từ ngôn ngữ như là một hệ thống các hình thức đồng nhất quy chuẩn, và để làm sáng tỏ mọi hiện tượng lời nói ta cần phải hướng tới các hình thức ổn định và tự trị (tự quy định) này.

Sau khi phân biệt ngôn ngữ với lời nói, theo nghĩa là tổng thể của tất cả các khả năng biểu hiện bằng lời không có ngoại lệ, Saussure tiếp tục phân biệt nó với các hành vi nói cá nhân, tức là với phát ngôn (parole).

“Khi phân biệt ngôn ngữ với phát ngôn (parole), chúng ta đồng thời cũng phân biệt: 1) cái mang tính xã hội với cái mang tính cá nhân; và 2) cái bản chất với cái không bản chất và ít nhiều ngẫu nhiên.

“Ngôn ngữ” không phải là một chức năng của cá nhân người nói – nó là sản phẩm mà cá nhân chỉ thụ động ghi lại; ngôn ngữ không bao giờ là kết quả của ý định trước, và sự suy nghĩ chủ quan diễn ra cũng chỉ nhằm mục đích phân biệt và phân loại, những điều chúng ta sẽ bàn sau.

“Phát ngôn”, trái lại, là một hành động của ý chí và tư duy cá nhân, trong đó chúng ta có thể phân biệt: 1) sự kết hợp mà cá nhân người nói sử dụng trong hệ thống ngôn ngữ để thể hiện suy nghĩ của cá nhân mình, 2) cơ chế tâm – vật lý, cho phép thể hiện những kết hợp đó.

Phát ngôn không thể là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học, theo cách hiểu của Saussure. Phát ngôn là một yếu tố ngôn ngữ học chỉ vì trong nó hiện diện những hình thức đồng dạng quy chuẩn của ngôn ngữ. Mọi thứ khác đều “ngẫu nhiên và không bản chất”.

Chúng tôi nhấn mạnh các luận điểm chính của Saussure: ngôn ngữ đối lập với phát ngôn, cũng như xã hội đối lập với các cá nhân. Phát ngôn, do đó, hoàn toàn cá nhân. Chính điểm này, như ở phần sau chúng ta sẽ thấy – thể hiện cái proton pseudos của Saussure và toàn bộ chủ nghĩa khách quan trừu tượng.

Những phát ngôn – hành vi nói của cá nhân – dù bị gạt bỏ một cách cương quyết ra khỏi boong tàu của ngôn ngữ học, vẫn trở lại như là một nhân tố thiết yếu trong lịch sử ngôn ngữ. Saussure, với tinh thần của xu hướng thứ hai, đối lập quyết liệt lịch sử ngôn ngữ với ngôn ngữ như là một hệ thống đồng đại. Trong lịch sử, cái thống trị là “phát ngôn” với tính cá nhân và ngẫu nhiên, vì vậy, lịch sử được điều chỉnh bởi một quy luật hoàn toàn khác so với quy luật điều chỉnh hệ thống ngôn ngữ.

“Đó là lý do tại sao – Saussure viết – một “hiện tượng” đồng đại không có gì chung với một hiện tượng lịch đại… Ngôn ngữ học đồng đại cần phải nghiên cứu các mối quan hệ logic và tâm lý, kết nối các yếu tố tồn tại và tạo thành hệ thống, như thể chúng tồn tại đối với cùng một ý thức xã hội duy nhất.

Ngôn ngữ học lịch đại, ngược lại, cần phải khảo sát mối quan hệ giữa các yếu tố nối tiếp nhau và không tồn tại đồng thời đối với cùng một ý thức xã hội; những yếu tố này thay thế nhau theo thời gian và không hình thành nên một hệ thống nào”.

Cách nhìn lịch sử của de Saussure hết sức điển hình cho tinh thần của chủ nghĩa duy lý, cho đến nay vẫn thống trị xu hướng tư tưởng triết học – ngôn ngữ thứ hai, xu hướng xem lịch sử như một năng lực phi lý, làm biến dạng sự tinh khiết logic của hệ thống ngôn ngữ.

Saussure và trường phái của ông không phải là đỉnh cao duy nhất của chủ nghĩa khách quan trừu tượng trong thời đại chúng ta. Bên cạnh nó còn có một đỉnh cao khác – đó là trường phái xã hội học Durkheim, thể hiện trong ngôn ngữ học bởi những gương mặt như Meillet. Chúng ta sẽ không đi sâu vào đặc trưng quan điểm của ông. Chúng nằm trọn trong khuôn khổ các luận điểm cơ bản của xu hướng thứ hai. Meillet cũng cho rằng ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội, không phải như một quá trình, mà như là một hệ thống ổn định của các quy tắc ngôn ngữ. Tính cưỡng bách của ngôn ngữ cũng như bản chất đứng ngoài ý thức cá nhân của nó, theo Meillet, là những đặc điểm xã hội chủ yếu của ngôn ngữ.

Trên đây là cách nhìn của xu hướng tư tưởng triết học ngôn ngữ thứ hai – xu hướng khách quan trừu tượng.

Trong khuôn khổ của hai xu hướng mà chúng ta vừa trình bày, tất nhiên, có nhiều trường phái và dòng tư duy ngôn ngữ học khác nhau, đôi khi khác nhau rất đáng kể. Nhiệm vụ của chúng ta chỉ là phác thảo những đường hướng chính. Tất cả các hiện tượng khác của tư tưởng triết học ngôn gnữ, trong quan hệ với hai xu hướng trên, đều chỉ là pha trộn hoặc thỏa hiệp, hoặc hoàn toàn không có bất kỳ định hướng nguyên tắc nào.

Lấy một hiện tượng lớn của ngôn ngữ học nửa sau thế kỷ XIX, trào lưu Tân ngữ pháp, làm ví dụ. Trong một số các luận điểm cơ bản của mình, các nhà Tân ngữ pháp có phần gắn bó với xu hướng thứ nhất, hướng tới giới hạn dưới – sinh lý học – của nó. Cá nhân, kẻ sáng tạo ngôn ngữ, với họ, về cơ bản là một cá thể sinh lý học. Mặt khác, các nhà Tân ngữ pháp, dựa trên cơ sở tâm – sinh lý học, lại cố gắng xây dựng những quy luật khoa học tự nhiên bất biến của ngôn ngữ, hoàn toàn tách rời khỏi bất cứ thứ gì thuộc về cá nhân người nói. Từ đó xuất hiện ý tưởng của các nhà Tân ngữ pháp về quy luật âm thanh. (Latgesetze).

Trong ngôn ngữ học, cũng như trong bất cứ ngành khoa học nào khác, có hai cách cơ bản để trốn tránh trách nhiệm và nỗi nhọc nhằn của việc tư duy một cách có trách nhiệm và nguyên tắc, tức là có tính triết học. Cách thứ nhất – chấp nhận ngay lập tức mọi quan điểm (Chủ nghĩa ba phải học thuật); cách thứ hai – không chấp nhận bất cứ quan điểm nguyên tắc nào và tuyên bố rằng “sự kiện” là cơ sở cuối cùng, là tiêu chí của mọi kiến thức (chủ nghĩa thực chứng học thuật).

Hiệu ứng triết học của cả hai cách trốn tránh triết học này là hoàn toàn như nhau, bởi vì với cách thứ hai, dưới cái vỏ bọc “sự kiện”, tất cả các quan điểm lý thuyết, không có ngoại lệ, đều có thể và trên thực tế đã thâm nhập vào việc nghiên cứu. Việc lựa chọn cách này hay cách khác phụ thuộc hoàn toàn vào tính khí của nhà nghiên cứu: phái ba phải nhiều tự mãn, còn các nhà thực chứng thì kín tiếng hơn.

Trong ngôn ngữ học, có rất nhiều trường hợp và cả những trường phái trọn vẹn (trường phái – theo nghĩa kỹ năng khoa học và kỹ thuật) trong việc trốn tránh nỗi nhọc nhằn của tư duy triết học – ngôn ngữ. Tất nhiên, chúng không phải là đối tượng của nghiên cứu này.

Về một số nhà ngôn ngữ học và triết học ngôn ngữ không được đề cập ở đây, ví dụ Otto Dietrich và Anton Marty, chúng tôi sẽ đề cập đến ở phần sau, khi phân tích về vấn đề giao tiếp bằng lời nói và vấn đề ý nghĩa.

Tiểu kết

Ở đầu bài này, chúng ta đặt vấn đề xác định và giới hạn ngôn ngữ như là đối tượng nghiên cứu chuyên biệt. Chúng ta đã cố gắng phát hiện những mốc quan trọng được thiết lập bởi các xu hướng tư tưởng triết học – ngôn ngữ tiền bối. Kết quả là, chúng ta đứng trước hai hàng mốc ngược chiều nhau, trước luận đề của chủ nghĩa chủ quan cá nhân và phản đề của chủ nghĩa khách quan trừu tượng.

Vậy cái gì là trung tâm thực sự của thực tiễn ngôn ngữ: hành động nói cá nhân (phát ngôn) hay hệ thống ngôn ngữ? Và phương thức tồn tại của thực tại ngôn ngữ là gì: sự hình thành sáng tạo liên tục hay tính bất biến ổn định của những quy tắc tự đồng nhất?

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.N. Voloshinov – Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ – NXB ĐHQGHN 2015.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s