Mối quan hệ Việt Nam và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) trước hết mang đặc tính vị lợi, thực dụng, thậm chí là cơ hội chủ nghĩa. Thật khó tìm thấy các tuyên bố của Việt Nam về ASEAN những bài phát biểu đề cao một cái nhìn tham vọng mang tầm khu vực hay một dự án táo bạo, mà thường là những lợi thế và lợi ích khi tăng cường quan hệ với những quốc gia láng giềng trong khuôn khổ ASEAN.

Cho đến nay, ta phải thừa nhận hiệu quả của chiến lược vị lợi này: 20 năm sau khi nhập ASEAN, Việt Nam tận dụng trọn vẹn sự năng động của khu vực. Quốc gia này giữ vai trò động lực trong HIệp hội cũng như trong việc thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN cuối năm 2015 mà từ đó Việt Nam cũng sẽ có thể tận dụng để giành được cương vị của một quốc gia có thế lực tại khu vực Đông Nam Á trong những năm tới. Hà Nội nâng tầm giá trị các công cụ đòn bẩy mà Hiệp hội mang lại để bảo vệ những lợi ích quốc gia và tăng cường vị thế nhưng không vì thế mà nhượng bộ những thỏa hiệp chiến lược. ASEAN cũng đang là một tổ chức có sức lan tỏa trong bức tranh địa chính trị mới của thế giới. Tại Diễn đàn kinh tế thế giới Davos vào tháng 1/2015, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã tham dự những thảo luận về ASEAN và những triển vọng địa chính trị thế giới: Một cơ hội để Hà Nội tái khẳng định mong muốn với ASEAN về một lợi ích cốt lõi. Như bài viết này sẽ đề cập đến sau đây, với ASEAN, Việt Nam đã tìm thấy một chất xúc tác phát triển thực sự cũng như một công cụ mở rộng quan hệ ngoại giao, nhưng không chỉ có vậy, quốc gia này còn trải qua cả nỗi thất vọng nặng nề về vấn đề mà đến giờ vẫn là ưu tiên của Hà Nội, đó là bảo vệ các quyền lợi quốc gia trên Biển Đông (biển Nam Trung Hoa). Trong lĩnh vực phức tạp và rất nhạy cảm này, ASEAN tỏ ra không chỉ là bất lực mà cả ngập ngừng. Câu hỏi cốt lõi hiện giờ vẫn còn bỏ ngỏ: Trong mối quan hệ ba bên Việt Nam – ASEAN – Trung Quốc, nỗi thất vọng của Việt Nam đối với ASEAN sẽ gây ra sự thờ ơ hay ngược lại, tạo sự củng cố trong tổ chức này?

Việc xây dựng ASEAN và Việt Nam: một quan hệ phức tạp

Lịch sử rõ ràng tiến triển tình hình ở Việt Nam luôn có một ảnh hưởng quan trọng đến quá trình xây dựng khu vực. Ảnh hưởng đầu tiên là ASEAN đã vận dụng chiến lược vị lợi để đảm bảo sự sống còn cho chính bản thân ASEAN. Thời điểm đàm phán đầu tiên chuẩn bị cho thành lập Hiệp hội cũng là lúc Chiến tranh Lạnh đang gây chia rẽ Đông Nam Á xung quanh cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai, sự chia rẽ sâu sắc đến mức một số nhà quan sát kết luận rằng ASEAN là một sản phẩm phái sinh của Chiến tranh Lạnh, thậm chí là một “sáng kiến của Mỹ” và “chính trong sự rạn nứt giữa một Đông Dương cộng sản và một ASEAN chống lại cộng sản mà tồn tại đặc thù chính trị và chiến lược cơ bản của Đông Nam Á”. Nếu cách diễn giải nói trên kháng cự yếu ớt trước một phân tích thực tế theo đó, những khái niệm về chu trình và sự tiếp nối thắng thế trước khái niệm về sự phân chia và đứt gãy, thì sự ngờ vực về những tham vọng của Việt Nam xuất khẩu cách mạng tuy vậy lại là hiện thực. Trong phạm vi này, ASEAN đối với những chế độ độc quyền láng giềng, trở thành một thành lũy tốt chống lại mối đe dọa cộng sản.

Tác dụng chất xúc tác của mối đe dọa Việt Nam đối với ASEAN

Nếu Hiệp hội không bao giờ tán thành với luận đề “Hai Đông Nam Á” cũng như không đồng ý với luận đề “Hiệp hội là một mưu toan được dẫn dắt bởi các cường quốc”, thực tế ASEAN đã sử dụng “chất xúc tác” Việt Nam, nhất là để tăng cường sự trợ giúp của Mỹ và đầu tư của Nhật Bản, những yếu tố đã làm nên nền tảng của quá trình cất cánh và sự phát triển kinh tế diệu kỳ. Đồng thời, ASEAN cũng đã phát triển sức bền của chính bản thân Hiệp hội, chiến lược mời chào (những liên hệ đầu tiên với Hà Nội đã được thiết lập ngay từ năm 1975) và chiến lược cạnh tranh hòa bình. ASEAN cũng xây dựng những diễn văn ca ngợi Khu vực hòa bình, tự do và trung lập – ZOPFAN – vào năm 1971 và Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á – TAC – 1976. Như vậy, thách thức từ Đông Dương đã được ASEAN sử dụng như một đường hướng hội nhập bằng cách buộc cách thành viên tập trung vào lợi ích cộng đồng hơn là sự khác biệt torng nhận thức của họ. Nếu sự can thiệp của Việt Nam vào Campuchia và thành lập một chính quyền thân Việt Nam tại Phnom Penh kìm hãm động thái xích lại gần nhau giữa Việt Nam và ASEAN trong thời kỳ 1975 – 1978  những sự việc nói trên lại mang đến hiệu ứng cải thiện cơ cấu với việc sử dụng phương cách ngoại giao tập thể chuyển giao nhiệm vụ cho một tổ chức bên ngoài (trong trường hợp này là Liên hợp quốc), các thành viên của ASEAN khai thác triệt để chiến lược của Việt Nam đồng thời tiến hành các đàm phán mang tính xây dựng với Hà Nội. Cuối cùng, ASEAN đi đến kết quả làm giảm giá trị những bài thuyết trình của cộng sản và khuyến khích những bấp bênh giữa những năm 1980 giúp dẫn đến tiến trình Đổi mới. Trong khi Hà Nội lúc đó coi trọng việc đi theo đường hướng của đồng minh lớn nhất là Liên Xô thì chính ASEAN đã làm cho hệ thống đó thất bại và giành uy tín trên trường quốc tế.

Ngay từ tháng 8/1988, Thủ tướng Thái Lan đã đề nghị Việt Nam biến chiến trường thành các khu vực giao thương; lúc đầu những liên lạc giữa hai bên chỉ rất hạn chế, sau dần gia tăng và thường xuyên hơn. Hà Nội đã có cơ hội thử thách sự khéo léo và tính kiên trì, ngoại giao của ASEAN qua những nhóm công tác thiết lập dưới sự dẫn dắt của Indonesia tại New York (Liên hợp quốc) rồi Paris (ký kết các hiệp định Paris về Campuchia tháng 10/1991). Sau chuyến thăm lịch sử của Tổng thống Indonesia Suharto (19/11/1990) tại Hà Nội, trao đổi gia tăng đậm nét; Việt Nam ký hiệp ước thân thiện và hợp tác (TAC) năm 1992, công nhận quan điểm an ninh khu vực và chính thức đề xuất gia nhập ASEAN; năm 1993, Việt Nam trở thành quan sát viên; năm 1994, Việt Nam trở thành thành viên sáng lập Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) – Diễn đàn an ninh khu vực – và gia nhập ASEAN ngày 28/7/1995.

Đòn bẩy phát triển

Tại sao Hà Nội lại lựa chọn gia nhập một ASEAN mà sự phát triển của tổ chức này từng nhờ vào mối “đe dọa Việt Nam”? Xét cho cùng, đó là một tính toán được cân nhắc kỹ càng và tỉnh táo giữa những điều bắt buộc và quyền lợi, trong hoàn cảnh nội bộ quốc gia, những lợi ích cảu chế độ bị đe dọa. Nhiều yếu tố đã thắng thế: Gia nhập một tổ chức với không ít lời đề nghị, một tổ chức có tầm nhìn và trưởng thành, đối với một Đảng Cộng sản đuối sức, một cách đảm bảo về tương lai mà Đảng có thể ngầm làm tăng giá trị với những người dân vốn mệt mỏi vì từng cố gắng trong chiến tranh và nay đang thắt lưng buộc bụng về kinh tế. ASEAN củng cố niềm tin cảu giới chức Việt Nam đối với khả năng họ dẫn dắt quốc gia vào một giai đoạn phát triển mới khi mà những chỉ số phát triển của Việt Nam ở vào dấu hiệu đỏ; một góc độ nào đó, đây là một đặc cược để nhận lấy ván bài thay đổi.

Về mặt kinh tế, khi tiến trình Đổi mới đang biến đổi những nền tảng XHCN của một nền kinh tế kém tính cạnh tranh, sự tiếp cận ưu tiên đối với những thị trường đang rộng mở và lợi ích mà những nhà đầu tư từ các quốc gia láng giềng mang tới có tính quyết định. Singapore, Malaysi và Thái Lan đã gửi những chuyên gia tư vấn để đồng hành với Việt Nam trong bước ngoặt kinh tế tự do này cũng như chia sẻ kinh nhgiệm với giới lãnh đạo, nhất là đối với lĩnh vực chiến lược công nghiệp. Những lợi ích được chia sẻ cho cả hai phía: một bên, Việt Nam, thu lợi rất nhiều từ hợp tác khu vực được mở rộng và bên kia, những thành viên sáng lập ASEAN, đánh giá cao sự năng động của một nền kinh tế mới nổi. GIa nhập ASEAN cũng đảm bảo cho Việt Nam sự ủng hộ từ các quốc gia thành viên của tổ chức này đối với những đề nghị của Việt Nam gửi tới các thể chế quốc tế cũng như làm tăng thêm uy tín cho những hồ sơ hội nhập quốc tế khác nhau của Việt Nam. Ví dụ, trong cuộc họp tại Brunei vào ngày 28/7/1995, các thành viên ASEAN đã ủng hộ cam kết của Hà Nội trong thủ tục gia nhập Diễn đàn kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), tổ chức mà Việt Nam mới gia nhập vào tháng 11/1998, cũng như vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007. Về mặt ngoại giao, ASEAN là một luồng không khí mới thực sự với một quốc gia vẫn còn khá biệt lập: đây là biện pháp hiệu quả nhất để cải thiện hình ảnh và uy tín của quốc gia. Như đối với những thành viên khác, Hiệp hội là phương tiện giúp Việt Nam chuyển tải thông điệp về mối lo ngại của quốc gia, nhất là đối với Trung Quốc, quốc gia mà sự trỗi dậy đang làm thay đổi bàn cờ địa chiến lược. Một số người cho rằng với việc gia nhập ASEAN, Việt Nam đã thực hiện hai việc cùng lúc: củng cố chiến lược khu vực với sự mời chào hướng về Trung Quốc đồng thời tái lập quan hệ với Mỹ, quốc gia từng thông báo về việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam chỉ hai tuần trước khi Việt Nam gia nhập ASEAN. Cũng trong tháng đó, Liên minh châu Âu ký một thỏa thuận hợp tác với Hà Nội. Năm 1995 là thời điểm lần đầu tiên Việt Nam độc lập có những mối quan hệ ổn định và cân bằng với toàn bộ các quốc gia chủ chốt tại châu Á – Thái Bình Dương. Các cuộc họp (ASEAN + 3, các đối tác đối thoại…) cũng trở thành những thời điểm gặp gỡ mà Hà Nội biết cách làm gia tăng giá trị; tương tự, ngoại giao Việt Nam sử dụng ASEAN để đạ được những quan hệ đối tác mới với Australia, New Zeadand, Ấn Độ và các tổ chức khu vực (Liên minh châu Phi…).

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí Herodote

TLTKĐB – 25 & 26/6/2016

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s