Tác dụng số 2 của quyền sở hữu: tích hợp thông tin tản mát vào một hệ thống

Như chúng ta đã thấy, hầu hết dân chúng ở các quốc gia thế giới thứ ba và xã hội chủ nghĩa trước đây không thể tham gia vào hệ thống quyền sở hữu hợp pháp, dù nó không được hoàn chỉnh, bất luận họ cố gắng ra sao. Bởi vì họ không thể đưa tài sản của họ vào hệ thống quyền sở hữu hợp pháp, kết cục họ giữ chúng ngoài vòng pháp luật. Lý do chủ nghĩa tư bản chiến thắng ở phương Tây và èo uột ở những nơi khác của thế giới là vì hầu hết tài sản ở các quốc gia phương Tây đã được tích hợp vào một hệ thống thể hiện sự chính thống.

Sự tích hợp này đã không xảy ra một cách ngẫu nhiên. Qua hàng thập kỷ trong thế kỷ XIX, các nhà chính trị, lập pháp, thẩm phán đã hòa hợp những thông tin và các quy tắc điều chỉnh quyền sở hữu nằm tản mát ở các thành phố, làng mạc, công trình, các trang trại với nhau và tích hợp chúng vào một hệ thống. “Sự kết hợp với nhau” này của những biểu diễn quyền sở hữu, một thời điểm cách mạng trong lịch sử của các quốc gia phát triển, đã đưa toàn bộ thông tin và quy tắc điều chỉnh của cải tích tụ được của công dân của họ vào một cơ sở tri thức. Trước thời điểm đó, thông tin về các tài sản ít có thể truy cập được. Mỗi trang trại hoặc khu định cư ghi chép tài sản của mình và các quy tắc điều chỉnh chúng bằng các sổ cái, ký hiệu, hoặc lời chứng thô sơ. Nhưng thông tin đã bị cắt vụn, tản mát, và không có sẵn cho bất kể một người đại diện nào ở bất kể thời điểm cho trước nào. Như chúng ta bây giờ đã biết quá rõ, một sự dư dật thông tin nhất thiết là một sự phong phú tri thức. Để tri thức có thể hoạt động, các quốc gia tiên tiến đã phải tích hợp toàn bộ dữ liệu không được quản lý chặt chẽ và bị cô lập về quyền sở hữu của họ vào một hệ thống toàn diện.

Các quốc gia thế giới thứ ba và xã hội chủ nghĩa trước đây chưa làm điều này. Trong tất cả các nước tôi đã nghiên cứu, tôi chưa từng thấy chỉ có một hệ thống pháp lý, mà là hàng tá hoặc thậm chí hàng trăm hệ thống được quản lý bởi đủ loại tổ chức, một số hợp pháp, số khác không hợp pháp, trải từ các nhóm nghiệp chủ nhỏ đến các tổ chức xây dựng nhà ở. Do vậy, cái mà dân chúng ở các nước đó có thể làm với tài sản của mình bị hạn chế bởi khả năng tưởng tượng của các chủ sở hữu và những người quen của họ. Ở các nước phương Tây, nơi thông tin tài sản được chuẩn hóa và sẵn có một cách phổ cập, cái mà các chủ sở hữu có thể làm với những tài sản của họ xuất phát từ khả năng sáng tạo tập thể của một mạng lưới rộng lớn hơn.

Có thể gây ngạc nhiên cho độc giả phương Tây là hầu hết các quốc gia trên thế giới vẫn chưa tích hợp các thỏa thuận ngoài pháp luật về tài sản vào một hệ thống pháp lý chính thức. Đối với những người phương Tây, chỉ có một luật – luật chính thức. Dù sao việc phương Tây dựa vào hệ thống quyền sở hữu được tích hợp là một hiện tượng mới, nhiều nhất là 200 năm. Ở hầu hết các nước phương Tây, hệ thống quyền sở hữu được tích hợp mới xuất hiện chỉ khoảng 100 năm trước; sự tích hợp của Nhật Bản xảy ra chỉ hơn 50 năm trước. Như chúng ta sẽ thấy cụ thể dưới đây, những thỏa thuận sở hữu phi chính thức tản mát đã một thời là thông lệ ở mọi quốc gia. Chủ nghĩa đa luật pháp đã là tiêu chuẩn ở châu Âu cho đến khi luật Roman được tái phát hiện ra ở thế kỷ XIV và các chính phủ đã tập hợp tấc cả các khuynh hướng luật vào một hệ thống tổng hợp.

Ở California ngay sau sự đổ xô đi tìm vàng năm 1849, đã có khoảng 800 tòa án khác nhau về tài sản, mỗi tòa án lại có các hồ sơ và quy chế riêng được thiết lập bởi sự đồng thuận địa phương. Khắp Hoa Kỳ, từ California đến Florida, các hiệp hội đòi quyền lợi đã thống nhất với nhau quy tắc riêng và lựa chọn quan chức riêng của họ. Chính phủ Hoa Kỳ đã mất hơn 100 năm, đến cuối thế kỷ XIX, để thông qua đạo luật đặc biệt, cái đã tích hợp và hình thức hóa các tài sản ở Hoa Kỳ. Bằng cách ban hành hơn 55 đạo luật quyền ưu tiên mua trước và khai mỏ, Quốc hội đã dần dần tìm được cách tích hợp các quy tắc quyền sở hữu phi chính thức của hàng triệu người nhập cư và những kẻ chiếm đất vào trong một hệ thống. Kết quả là một thị trường tài sản đã được tích hợp, đã cấp nhiên liệu cho sự tăng trưởng bùng nổ về kinh tế của Hoa Kỳ sau đó.

Rất khó học theo lịch sử tích hợp các hệ thống sở hữu tài sản rộng lớn là vì, quá trình này xảy ra trong thời gian rất dài. VÍ dụ, các cơ quan đăng ký quyền sở hữu chính thức bắt đầu xuất hiện ở Đức vào thế kỷ XII, nhưng đã không được tích hợp đầy đủ cho đến năm 1896, khi hệ thống Grundbuch [Sổ đất] phục vụ việc ghi chép các giao dịch đất đai bắt đầu hoạt động ở quy mô quốc gia. Ở Nhật Bản, phong trào toàn quốc chính thức hóa quyền sở hữu của những nông dân bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX và chỉ kết thúc vào cuối các năm 1940. Cho đến giao thời của thế kỷ XX, những nỗ lực vô song của Thụy Sĩ để gom các hệ thống bảo vệ quyền sở hữu và các giao dịch khác nhau vào một mối vẫn được ít người biết đến, thậm chí đối với nhiều người Thụy Sĩ.

Nhờ sự tích hợp, công dân của các quốc gia tiên tiến có thể nhận được những mô tả về các đại lượng kinh tế và xã hội của bất kể tài sản sẵn có nào mà không phải xem chính tài sản ấy. Họ không còn phải đi khắp đất nước để thăm từng chủ sở hữu và hàng xóm của họ; hệ thống quyền sở hữu chính thức cho phép họ biết các tài sản nào là sẵn có và những cơ hội nào tồn tại để tạo ra giá trị thặng dư. Vì vậy, tiềm năng của một tài sản trở nên dễ đánh giá hơn và dễ trao đổi hơn, tăng cường sản sinh vốn.

Tác dụng số 3 của quyền sở hữu: làm cho dân chúng có trách nhiệm

Việc tích hợp tất cả các hệ thống quyền sở hữu vào một luật sở hữu chính thức đã chuyển tính hợp pháp về các quyền của chủ sở hữu từ phạm vi chính trị cục bộ địa phương sang phạm vi khách quan của luật. Giải phóng các chủ sở hữu khỏi những dàn xếp hạn chế cục bộ và đưa họ vào một hệ thống pháp lý được tích hợp hơn, tạo thuận tiện cho trách nhiệm giải trình của họ.

Bằng cách chuyển đổi con người với những quyền lợi tài sản thành các cá nhân có trách nhiệm, quyền sở hữu chính thức tạo ra các cá nhân từ quần chúng nhân dân. Người dân không còn phải dựa vào các quan hệ hàng xóm hoặc phải tiến hành các cuộc dàn xếp địa phương để bảo vệ các quyền của mình đối với tài sản. Được giải phóng khỏi những hoạt động kinh tế thô sơ và khỏi các ràn gbuộc của địa phương, họ có thể tìm cách tạo giá trị thặng dư từ các tài sản riêng của mình. Nhưng có một cái giá phải trả: một khi ở trong một hệ thống quyền sở hữu chính thức, người sở hữu mất đi tính ẩn danh của mình. Do được liên kết chặt chẽ với bất động sản và các công việc kinh doanh nên có thể dễ bị nhận diện và định vị, người dân không còn khả năng lẩn trốn trong đám đông. Sự ẩn danh này thực tế đã không còn ở phương Tây, trong khi tính trách nhiệm cá nhân được tăng cường. Những người không trả tiền hàng hóa hay dịch vụ mà họ đã tiêu thụ có thể bị nhận diện, phải chịu lãi phạt, bị phạt, bị cấm vận, bị đánh tụt hạng tín dụng. Các nhà chức trách có khả năng biết những vi phạm pháp luật và các hợp đồng bị từ chối; họ có thể ngưng các dịch vụ, siết tài sản, và rút một số hoặc tất cả các đặc quyền của quyền sở hữu hợp pháp.

Sự tôn trọng đối với quyền sở hữu và các giao dịch ở phương Tây không phải được mã hóa trong DNA cảu các công dân của họ; đúng hơn nó là kết quả của việc ó các hệ thống quyền sở hữu chính thức có thể thực thi được. Vai trò của quyền sở hữu chính thức, trong bảo vệ không chỉ quyền sở hữu mà cả sự an toàn của các giao dịch, khuyến khích công dân các nước tiên tiến tôn trọng các chứng thư sở hữu, tôn trọng thực hiện các hợp đồng và tuân thủ luật pháp. Khi bất kể công dân nào không hành động một cách trung thực, sự vi phạm của anh ta được ghi lại trong hệ thống, hủy hoại uy tín của anh ta với tư cách là một bên đáng tin cậy đối với các hàng xóm, các công ty công ích, ngân hàng, công ty điện thoại, hãng bảo hiểm của anh ta, và các đối tác khác mà tài sản gắn kết anh ta lại.

Như thế các hệ thống quyền sở hữu chính thức của phương Tây ban sự may mắn theo hai chiều. Mặc dù chúng cung cấp tiền cược cho hàng trăm triệu công dân trong ván bài tư bản chủ nghĩa, thì cái làm cho tiền cược này có nghĩa chính là nó có thể bị mất. Một phần lớn giá trị tiềm năng của quyền sở hữu hợp pháp xuất phát từ khả năng mất quyền. Bởi vậy, rất nhiều quyền lực của nó xuất phát từ tính trách nhiệm do nó tạo ra, từ các ràng buộc mà nó áp đặt, các quy tắc nó đẻ ra và từ những sự trừng phạt mà nó có thể áp dụng. Để cho phép người dân thấy tiềm năng kinh tế và xã hội của các tài sản, quyền sở hữu chính thức thay đổi nhận thức trong xã hội tiên tiến không chỉ về những phần thưởng tiềm năng của việc sử dụng các tài sản mà cả về những mối nguy hiểm. Quyền sở hữu chính thức đòi hỏi sự cam kết.

Như vậy, việc thiếu quyền sở hữu hợp pháp giải thích vì sao công dân các quốc gia thế giới thứ ba và xã hội chủ nghĩa trước đây không thể tiến hành những hợp đồng có lợi với những người xa lạ, không thể có được tín dụng, bảo hiểm hoặc các dịch vụ công ích: họ không có tài sản để mất. Vì họ không có tài sản để mất, nên họ chỉ được coi là những người tham gia hợp đồng nghiêm túc bởi những người gần gũi trong gia đình và láng giềng của họ. Những người không có gì để mất bị mắc bẫy trong tầng hầm dơ dáy của thế giới tiền tư bản chủ nghĩa.

Trong khi đó, công dân của các quốc gia tiên tiến có thể giao dịch cho bất kể thứ gì hợp lý, những cái giá vào cửa là cam kết. Cam kết được hiểu tốt hơn khi đảm bảo bằng một cam kết tài sản, bất luận nó là thế chấp, quyền siết tài sản, hoặc bất kể dạng đảm bảo nào để bảo vệ những người tham gia hợp đồng phía bên kia.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hernando de Soto – Bí ẩn của vốn – NXB CTQG 2016.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s