Trong hoàn cảnh Bắc Kinh nhiều lần xâm phạm vùng biển của Việt Nam trên Biển Đông và tấn công những vị trí bố phòng quân sự của Việt Nam (năm 1988), lợi ích an ninh và chiến lược của việc Việt Nam gia nhập ASEAN không hề bị xem nhẹ. ASEAN, Hiệp hội bảo vệ đường hướng hòa bình thông qua đàm phán, không phải là một tổ chức quân sự nhưng việc các thành viên của Hiệp hội duy trì những quan hệ đặc biệt, thậm chí là đồng minh chiến lược với Mỹ, Australia và Nhật Bản và thậm chí việc Hiệp hội tổ chức hội nghị Diễn đàn an ninh khu vực, thì đó là một bảo đảm được đánh giá cao. Tình trạng cô lập của Hà Nội được thu hẹp nhờ triển khai mạng lưới đa phương này. Bằng chứng cho một quan hệ đối tác được khai thác từ sớm: Ngay từ năm 1996, với sự thúc đẩy của Hà Nội và Manila, ASEAN bắt đầu bàn thảo với Trung Quốc về Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông.

Đối với ASEAN, thách thức là không nhỏ. Thách thức đối với 5 thành viên sáng lập (Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines và Singapore) là việc sang trang lịch sử mới, vốn được biết đến với những ngờ vực, đa nghi, và hợp tác cùng có lợi ASEAN biết họ được lợi gì, là sức mạnh, sự bền bỉ đến từ sự thống nhất, cũng như khả năng hòa hợp, phối hợp những điều kiện, thế mạnh của mỗi một đối tác: Kết nạp Việt Nam, điều này góp phần tăng cường an ninh và thịnh vượng của tổ chức này. Việc Việt Nam là một chế độ cộng sản không gây phiền cho Hiệp hội mà ngược lại còn chỉ ra rằng ASEAN có thể quản lý cả những khác biệt. Ngoài việc Việt Nam là một nước có 74 triệu dân vào thời điểm năm 1995, quốc gia đông dân thứ hai sau Indonesia và gần bằng với Philippines, đây còn là một nền kinh tế đang bắt đầu thời kỳ chuyển giao đầy hứa hẹn với mục tiêu công bố là xóa đói giảm nghèo và chuyển sang nền kinh tế có thu nhập trung bình vào năm 2020. Cuối cùng thì đây cũng là một cơ hội để thể hiện sự “cởi mở” với các nước láng giềng như Lào, Campuchia, những quốc gia giống như Myanmar, đã yêu cầu được gia nhập ASEAN: Về mặt biểu tượng, đó là bằng chứng rõ ràng về sự hòa giải của đại gia đình ASEAN nhân kỷ niệm sinh nhập Hiệp hội 30 tuổi. ASEAN siết chặt hàng ngũ xung quanh một dự án cộng đồng thịnh vượng và an ninh.

Căng thẳng và kháng cự

ASEAN gần đạt mốc 30 năm thành lập khi Việt Nam gia nhập tổ chức. Không lâu sau khi gia nhập, Việt Nam đã gặp phải những khó khăn khi phải thích ứng với nhịp độ (vào thời kỳ đó có khoảng 300 cuộc họp/năm), với những cơ chế và thủ tục đã được chấn chỉnh kỹ càng của ASEAN. Các nhà ngoại giao Việt Nam không hề thoải mái với phong cách không chính thức của ASEAN. Những quyết định chính trị gia nhập tổ chức khu vực không dẹp bỏ được những khác biệt giữa các quốc gia thành viên. Khi những vui vẻ hào hứng lúc gia nhập đi qua, vấn đề là phải thích nghi với một tình hình không dễ dàng: Một nền kinh tế đang có nhiều vướng víu trong những thủ tục quan liêu mang đến nhiều bất lợi, những người dân ít được chuẩn bị cho những chuyển đổi, một cơ sở hạng tầng còn yếu thậm chí là vận hành chưa tốt. Tuy nhiên vấn đề cơ bản không phải ở đó. Hai năm sau khi Việt Nam gia nhập ASEAN, khủng hoảng tài chính giáng xuống Đông Nam Á, và do đó là ASEAN bị ảnh hưởng. Khủng hoảng tài chính cũng làm thay đổi ASEAN. Việt Nam không bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi những xáo trộn đa dạng vốn gây bất ổn cho các nước đối tác. Thực tế thì mức độ Việt Nam bị ảnh hưởng bởi những nguồn vốn trong khu vực cũng không so sánh được với các nước trong khu vực. Nhưng sự bất lực của ASEAN trong việc ngăn chặn sự lây lan của khủng hoảng đánh dấu sự chấm dứt của huyền thoại về một ASEAN của thành công và làm suy giảm đáng kể tầm quan trọng của tổ chức này.

Những câu hỏi liên quan đến sự tồn tại của ASEAN như trên được đặt ra đúng vào thời điểm bất lợi đối với Việt Nam, quốc gia lúc đó đang bước đầu đi vào những chuyển đổi căn bản mà đến nay những kết quả tăng trưởng cũng đã trở thành chuyện quá khứ. Ngoài khó khăn cơ bản trên đây, thành viên mới Việt Nam còn phải tham dự cuộc thảo luận về những chuyển đổi cần thiết của ASEAN trong khi chính quốc gia này vẫn còn chưa tiêu hóa hết những công cụ hiện hành của tố chức này lúc bấy giờ. Bị giằng xé giữa một bên là những quốc gia theo đường lối cải cách như Philippines, Thái Lan và một bên, những quốc gia bảo thủ, Hà Nội rõ ràng đã đứng về phía những quốc gia bảo thủ. Các quốc gia lựa chọn cải cách đề nghị mở rộng quyền hạn và thẩm quyền của Ban thư ký tới mức đảm bảo không quay trở lại với những thói quen cũ. Hà Nội lập tức đứng đầu những tranh cãi, từ chối đặt lại vấn đề những nguyên tắc chủ yếu của ASEAN (nhất là không can thiệp công việc nội bộ các nước và đưa ra những quyết định dựa trên sự đồng thuận). Việc này đảm bảo nhóm quyền lực không gặp phải một “trừng phạt” nào đó và cũng là đảm bảo không một quyết định nào trái với lợi ích quốc gia bị áp đặt cho Việt Nam. Vào thời kỳ này, Myanmar, Lào (năm 1997) và Campuchia (năm 1999) đã gia nhập ASEAN. Do đó Việt Nam có một nhóm gây ảnh hưởng mà quốc gia này có thể huy động để từ chối những cải cách và tập trung vào việc quét sạch những nội dung đổi mới trong dự án này. Cuối cùng, thuật hùng biện tuyệt vời đã giành thắng lợi trước cải cách sáp nhập. Tháng 9/2000, Việt Nam khi đó là chủ tịch ASEAN, từ chối việc ASEAN kiện vụ việc Aung San Suu Kyi ra tòa sau khi bà bị đặt dưới chế độ kiểm soát tại nhà. Dù những phát biểu của Tổng thư ký Liên hợp quốc Kofi Annan gợi ý về việc triệu tập một nhóm bộ ba, Hà Nội nhất quyết không thay đổi ý kiến với lý do “tôn trọng chủ quyền quốc gia”; Cân bằng bị lung lay giữa vấn đề chính sách nội bộ và chính sách khu vực. Các nhà quan sát đề cập đến việc “ASEAN hai tốc độ”.

Tiến tới hợp tác: Trụ cột mới của ngoại giao Việt Nam

Sau khi ngăn cản tất cả các cải cách có khả năng đe dọa lợi ích và đảm bảo kiểm soát tuyệt đối đối với quá trình cải cách của khu vực, Việt Nam dành quan tâm cho việc làm gia tăng giá trị của “cơ hội vàng” này. Các nhà lãnh đạo Việt Nam hiểu lợi ích mà họ có thể thu được từ chuẩn mực đặt ra từ khi thành lập ASEAN, những chuẩn mực mà giờ đây họ ra sức bảo vệ một cách nhiệt thành. “Một ASEAN thống nhất và mạnh mẽ là ưu tiên số 1 của Việt Nam”, đây là tuyên bố của Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang ngày 28/6/2013 trong chuyến thăm Indonesia.

Bước ngoặt trong những năm 2000 và sự thích nghi với những chuẩn mực ASEAN

Những năm 2000, Việt Nam bước vào một loạt cải cách mà ngày nay đang mang lại kết quả: Việt Nam có thể hiện đại hóa được là nhờ ASEAN, nhờ sự mềm dẻo trong cơ chế của tổ chức này, nhờ vào việc không có những bắt buộc – điều này cho phép có những điều chỉnh cần thiết và cảnh báo một cách thường xuyên tính bền chặt của các tham số kinh tế, chính trị, an ninh: Những yếu tố mà ASEAN cho là an ninh tổng thể. Trong khuôn khổ các dự án ASEAN (phát triển nông thôn, du lịch, phát triển) và nhiều không gian đoàn kết mới ở mức độ dưới khu vực, nhất là xung quanh khu vực sông Mekong, VIệt Nam thúc đẩy quan hệ với Lào, Campuchia và Myanmar. Và không phải ngẫu nhiên mà đầu những năm 2000, Campuchia và Lào là hai quốc gia trong ASEAN nhận được nhiều nhất đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Việt Nam. Tháng 11/2004, bên lề Hội nghị Thượng đỉnh Viên Chăn, tam giác tăng trưởng giữa ba quốc gia nói trên đã được khởi động. ASEAN giúp Việt Nam tìm lại vai trò “người anh lớn”, vị trí mà vài năm sau đó bị Trung Quốc cạnh tranh. Giới chức Việt Nam thích ứng với những tiêu chuẩn của ASEAN một cách thuận lợi đến mức những tiêu chuẩn này còn tạo điều kiện cho họ theo đuổi các mục tiêu: Nới lỏng sức ép kinh tế mà không đặt lại vấn đề kiểm soát quá trình chính trị. Tháng 7/2003, Hội nghị lần thứ VIII Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IX đã đề ra Nghị quyết về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Nghị quyết này nêu quan điểm đối tác – đối tượng, điều này thể hiện sự thay đổi tư duy của Việt Nam coi những thành viên của ASEAN không phải là những kẻ thù tiềm tàng mà là đồng minh. Ngoài ra còn có những lĩnh vực khác mà Việt Nam cũng dành nhiều quan tâm, đó là ngoại giao phòng ngừa và những cam kết có tính xây dựng. Từ đây, chủ nghĩa thực dụng của Việt Nam rút ra sức mạnh mới và nhất là một đảm bảo cho phép quốc gia này đương đầu với những đàm phán khó khăn trên tinh thần cởi mở, thân thiện hơn. Ví dụ, từ năm 1997, Việt Nam đã khởi động những đàm phán về vấn đề biên giới với Trung Quốc và đi đến ký kết Hiệp ước hoạch định biên giới đất liền song phương vào năm 1999. Sau đó một năm, Hiệp định Phân định vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng được ký kết vào năm 2000. Cũng trên tinh thần gắn với đường hướng ASEAN, năm 2005, Hà Nội đã ký kết với Philippines và Trung Quốc một hiệp định liên quan đến việc thăm dò tìm kiếm chung nguồn tài nguyên dầu khí trong một khu vực tại Biển Đông.

Cân nhắc lợi ích khi tham gia tạo lập các tiêu chuẩn hơn là tuân theo (thậm chí chịu đựng) các tiêu chuẩn, Việt Nam tham gia rất tích cực vào các đàm phán về Hiến chương ASEAN, ký kết năm 2007; một đại diện của Việt Nam, đại sứ Nguyễn Mạnh Cầm, tham gia vào Nhóm các nhân vật nổi tiếng, bảo vệ một ASEAN liên quan đến quyền con người và tiến bộ dân chủ. Việt Nam là thành viên thứ 5 của Hiệp hội phê chuẩn Hiến chương ASEAN.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí Herodote

TLTKĐB – 25 & 26/6/2016

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s