Tiền bạc và bầu cử: Các vấn đề chính sách

Giờ đây, có lẽ chúng ta đã hiểu rõ hơn tại sao tình thế nan giải được lưu ý khi bắt đầu phần thảo luận về ngân quỹ vận động lại gai góc đến thế. Các cuộc bầu cử được xem là cách thức để duy trì khả năng đáp ứng yêu cầu từ phía người dân của các đại diện, bằng cách buộc họ phải cạnh tranh với những người có khả năng trở thành đại diện khác nhằm thu hút số phiếu cần thiết để giành chiến thắng và giữ được việc làm. Điều này không có nghĩa rằng mọi cuộc bầu cử đều là một trận chiến khốc liệt, song nó thực sự đòi hỏi các đại diện phải chuẩn bị tinh thần cho một cuộc cạnh tranh nghiêm túc nếu họ không phục vụ tốt các cử tri. Tuy vậy, những cuộc cạnh tranh nghiêm túc trong bầu cử là rất tốn kém, bởi việc thông tin cho cử tri về các khả năng lựa chọn là rất đắt đỏ. Các chi phí này được đáp ứng bằng việc thu hút những khoản tiền lớn từ các cá nhân và các nhóm với những giá trị và lợi ích có thể khác nhau so với giá trị và lợi ích của cử tri. Thực tiễn này làm nảy sinh sự nghi ngờ rằng các quan chức được bầu sẽ đáp ứng yêu cầu của các nhà tài trợ nhiều hơn là yêu cầu của các cử tri, từ đó hủy hoại mục tiêu của các cuộc bầu cử và cuối cùng là cả nền dân chủ. Có rất ít bằng chứng khẳng định rằng các khoản tiền đóng góp cho chiến dịch vận động dùng để mua ảnh hưởng và rằng các quan chức được bầu phớt lờ cử tri để làm hài lòng các nhà tài trợ. Nhưng không ai phủ nhận rằng tiền được dùng để mua lối vào, hay sự lắng nghe của chính trị gia.

Tuy nhiên, phương tiện truyền thông và các nhóm tự xưng là vận động vì lợi ích công đã thuyết phục phần lớn người dân Mỹ rằng những khoản tài trợ cho chiến dịc bầu cử được dùng để mua các đặc lợi từ chính sách, bên cạnh các buổi tiếp tân của Nhà Trắng và cá buổi hẹn chơi golf với những nhà lãnh đạo Quốc hội. Tình thế khó khăn đối với nền dân chủ xuất phát từ hệ thống tài trợ cho vận động tranh cử đã ngày càng trở nên gay gắt cùng với việc gia tăng chi tiêu cho chiến dịch vận động, và những thay đổi lớn đối với hệ thống này được đề xuất lên Quốc hội sau mỗi cuộc bầu cử. Năm 2002, gần ba thập niên sau khi FECA được thông qua, các nhà cải cách đã thành công trong việc thông qua BCRA, nhưng điều này hầu như không giúp gì cho việc giải quyết các vấn đề căn bản. Một số đề xuất cải cách được nhiều người ủng hộ đã dựa trên việc hiểu sai nền chính trị bầu cử. Ví dụ, phần lớn người dân Mỹ tin rằng các chiến dịch vận động đã trở nên quá tốn kém và mong muốn áp đặt giới hạn trần cho khoản chi tiêu này. Nhưng nếu mục tiêu là tạo ra các cuộc bầu cử mang tính cạnh tranh, vậy vấn đề lớn hơn sẽ là một số lượng lớn các chiến dịch được tài trợ quá ít ỏi nên không thể mang tới cho cử tri thông tin dù là khiêm tốn nhất về những lựa chọn khác. Hơn nữa, trừ phi các giới hạn chi tiêu là tương đối cao, nếu không chúng sẽ giúp các nghị sĩ đương nhiệm và gây thiệt hại cho những người thách đấu (xem Hình 11 – 4 và 11 – 5).

Một cải cách được đề xuất là dân chủ hóa việc tài trợ cho các chiến dịch tranh cử vào Quốc hội bằng cách cấm các khoản tài trợ lớn và cấm các PAC, buộc các ứng cử viên phải tài trợ cho chiến dịch vận động tranh cử của mình bằng những khoản đóng góp nhỏ của các cá nhân riêng lẻ. Tuy nhiên, cải cách này bị mắc kẹt trong vấn đề người ngồi không hưởng lợi mang tính kinh điển. Vì thắng lợi của ứng viên sẽ có lợi cho tất cả những người mong muốn điều này, cho dù họ có đóng góp cho chiến dịch động bầu cử hay không, và bởi vì không một khoản đóng góp nhỏ bé và riêng lẻ nào có thể tác động tới kết quả hoặc tạo ra khả năng tiếp cận người chiến thắng, nên phần lớn các ứng cử viên đều không thể thu hút đủ số tiền tài trợ từ những khoản đóng góp nhỏ để tiến hành một chiến dịch vận động mang tính cạnh tranh và hiệu quả. Nhận thức được thực tiễn này, các nhà cải cách đã đề ra một giải pháp chuẩn mực: tài trợ cho các chiến dịch bằng tiền của người dân. Theo quan điểm của họ, các cuộc bầu cử không bị lệch lạc bởi khoản đóng góp của những nhóm lợi ích đặc biệt là một loại hàng hóa công mà các công dân bắt buộc phải mua, cũng giống như việc họ phải trả tiền cho nền quốc phòng của đất nước. Tiền lệ của nó chính là việc tài trợ cho các chiến dịch vận động bầu cử tổng thống (chúng ta tạm thời bỏ qua khoản chi tiêu độc lập và phương án nằm ngoài hệ thống của ứng cử viên).

Đối với rất nhiều người ủng hộ ý tưởng này, các cuộc bầu cử Quốc hội được chính quyền tài trợ còn có một lợi thế khác: ứng cử viên có thể bị yêu cầu chấp nhận giới hạn chi tiêu để đổi lấy nguồn ngân sách công cho chiến dịch vận động của mình. Nhưng một lần nữa, trừ phi các giới hạn này được đặt ở mức cao vừa đủ, nếu không nó sẽ làm tổn hại tới những người thách đấu và giảm tính cạnh tranh trong bầu cử. Tuy nhiên, nếu tất cả các chiến dịch đều có đủ tiền để trở nên thực sự cạnh tranh, hệ thống này sẽ là quá đắt, với hàng chục triệu USD tiền thuế dành cho rất nhiều ứng cử viên không có triển vọng thắng cử. Hơn nữa, bất kỳ biện pháp tài trợ công nào cũng đều phải phù hợp với đặc trưng về các vòng bầu cử sơ bộ và ứng cử viên đảng thứ ba hoặc ứng cử viên độc lập. Bởi vậy, ý tưởng mở rộng ngân sách công cho các ứng cử viên Quốc hội hầu như giậm chân tại chỗ bởi công chúng không tán thành động thái này. Những người phản đối đã thành công khi miêu tả đặc trưng của các quỹ tài trợ công là “phúc lợi dành cho các chính trị gia”, một công thức kết hợp cả hai yếu tố bị phản đối rộng rãi.

Tuy nhiên, rào cản cuối cùng đối với một hệ thống tài trợ vận động tranh cử mang tính quân bình hơn chính là Tu chính án thứ nhất theo như cách diễn giải hiện nay của Tòa án tối cao. Ngay cả nếu các chiến dịch được tài trợ đầy đủ bằng ngân sách công và các khoản tài trợ tư nhân bị cấm, thì mọi người và các tổ chức vẫn được tự do chi tất cả số tiền họ gom góp được cho các chiến dịch vận động độc lập để ủng hộ hoặc công kích các ứng cử viên. Hơn nữa, chúng ta có thể chắc chắn rằng rất nhiều người và nhóm hiện đang quyên tiền cho các ứng cử viên sẽ chỉ đơn giản là chuyển hướng tài trợ của họ sang các chiến dịch vận động độc lập nếu như luật pháp chặn mọi nẻo đường khác để tham gia vào đời sống chính trị. Sự gia tăng ngoạn mục số tiền dành cho các tổ chức 527 trong năm 2004 sau khi BCRA cấm các khoản tiền mềm là một dấu hiệu cho thấy những gì sẽ diễn ra. Vì không ai tin rằng các thẩm phán sẽ sớm thay đổi quyết định của họ, nên năm 1997, một số nhà cải cách – bao gồm cả cựu Hạ nghị sĩ Richard Gephardt của bang Missouri, lúc đó là lãnh tụ phe thiểu số của Đảng Dân chủ tại Hạ viện – đã đề xuất sửa đổi Tu chính án thứ nhất của Hiến pháp để cho phép Quốc hội áp đặt giới hạn chi tiêu “hợp lý” đối với mọi người. Khoản sửa đổi này chẳng đi tới đâu trong năm đó cũng như về sau, nhưng ý tưởng này dường như vẫn tồn tại đâu đó khi tình thế bế tắc của việc tài trợ vận động tranh cử vẫn còn tiếp diễn.

Bất chấp sự tán thành rộng rãi của những người hoạt động chính trị tích cực đối với ý kiến cho rằng hệ thống tài trợ vận động tranh cử là khiếm khuyết theo cách này hay cách khác, song những thay đổi cơ bản là ít có khả năng, bởi chưa có sự đồng thuận về việc nên cải thiện hệ thống như thế nào và bằng cách nào. Ngay cả việc kiểm soát tiền mềm, một sự thay đổi rất nhỏ, cũng phải cần tới một nỗ lực hết sức to lớn. Những thay đổi lớn hơn sẽ chỉ có thể diễn ra dưới hình thức các thông lệ tài trợ vận động tranh cử mang tính sáng tạo hơn bao giờ hết. Nhưng điều này không nhất thiết là xấu: dù hệ thống tài trợ vận động tranh cử còn lâu mới đạt tới sự quân bình, song nó mang tính đa nguyên nổi bật. Những người có lợi ích và giá trị khác xa nhau cùng tham gia vào việc tài trợ cho các chiến dịch vận động tranh cử, và không quan điểm đơn nhất nào chiếm vị thế chi phối. Các ứng cử viên có triển vọng với những thông điệp hứa hẹn có hiệu quả thường tìm thấy các đồng minh về tài chính, và vì vậy các quan chức được bầu có thể dự đoán được những rắc rối họ sẽ gặp phải trong bầu cử nếu đi chệch hoặc không quan tâm tới những người đã bầu cho họ. Tiền bạc là rất quan trọng bởi các ứng cử viên cần nó để đến với cử tri, nhưng các cử tri mới là người quyết định cuối cùng.

Lôgích của các cuộc bầu cử định kỳ

Bất chấp mọi vấn đề của các cuộc bầu cử tại Hoa Kỳ, chúng vẫn rất hiệu quả trong việc duy trì nền dân chủ Mỹ. Các cuộc bầu cử định kỳ, tự do và mang tính cạnh tranh bảo vệ đất nước chống lại những nguy cơ không thể tránh khỏi khi các công dân ủy thác quyền lực cho chính phủ. Các cuộc bầu cử cho phép mọi công dân – với tư cách là chủ nhân – lựa chọn người đại diện của mình, đồng thời sa thải hoặc thay thế những người hoạt động không hiệu quả. Nguy cơ bị thay thế tạo ra động lực mạnh mẽ để các quan chức được bầu lắng nghe cử tri của mình. Các cuộc bầu cử cũng tạo ra động lực cho các cá nhân và tổ chức giải quyết những vấn đề về người ngồi không hưởng lợi và hoạt động phối hợp vốn ngăn cản hành động tập thể của công dân. Những nhà lãnh đạo nhiều tham vọng và các đồng minh chính trị của họ cạnh tranh giành phiếu bầu bằng cách giám sát các quan chức và thông tin cho người dân về sai sót của họ, chi trả cho các chi phí về thông tin mà cá nhân công dân không thể nào trả nổi. Tương tự, bằng cách huy động cử tri đi bỏ phiếu trong ngày bầu cử, họ đã biến các công dân – những người đã không muốn bỏ phiếu – thành các cử tri. Họ cũng đảm nhận phần lớn chi phí của việc theo dõi các công dân thực sự mong muốn điều gì từ những người đại diện trong chính quyền, thông qua các nhóm khảo sát và nhóm trọng điểm, từ đó bù đắp cho việc thiếu những động cơ hợp lý để cá nhân bày tỏ nguyện vọng chính trị. Nhưng tất cả các hoạt động này đều rất tốn tiền, và hệ thống tài trợ vận động tranh cử thể hiện những vấn đề về tổ chức của riêng nó mà không dễ gì giải quyết được.

Những cuộc bầu cử cũng lôi kéo các ứng cử viên và chiến dịch vận động để giúp giải quyết vấn đề phối hợp rất rộng lớn mà hàng triệu cử tri đang phải đối mặt khi cố gắng thực hiện hành động tập thể nhằm kiểm soát hoặc thay thế các đại diện của họ. Bằng cách đưa ra những khuôn khổ cạnh tranh cho một quyết định bỏ phiếu, họ đã làm rõ và tập trung sự lựa chọn bầu cử vào một điểm mà các cử tri thờ ơ có thể kiểm soát được. Sự lựa chọn vấn đề mang tính cơ hội của các ứng cử viên đã đưa những mối quan tâm của cử tri vào chương trình nghị sự quốc gia và giúp kết quả bỏ phiếu trở nên dễ hiểu: ví dụ, năm 2004, vấn đề then chốt thực sự  một chiến lược thích hợp để đánh bại chủ nghĩa khủng bố. Khi các ứng cử viên hình thành những liên minh tương đối ổn định với các nhà lãnh đạo tương lai khác – có nghĩa là kết hợp trong các đảng chính trị – họ đã thu hẹp phạm vi lựa chọn trong một số lượng có thể kiểm soát được, thường là chỉ hai lựa chọn. Trên thực tế, mác đảng phái đã đơn giản hóa sự lựa chọn của cử tri đối với các chức vụ và trong hàng loạt cuộc bầu cử. Mác đảng phái cũng cho phép cử tri buộc các quan chức được bầu phải có trách nhiệm tập thể đối với kết quả hoạt động của họ khi còn đương nhiệm. Nói cách khác, các cuộc bầu cử đã tạo ra mối liên kết mạnh mẽ giữa công luận và hành động của chính quyền. Nhưng chúng có thể làm được điều này chỉ bởi vì những người giàu tham vọng về chính trị nhận thấy rằng việc tham gia vào các hoạt động củng cố mối liên kết này sẽ phục vụ tốt cho mục tiêu của bản thân họ. Một sản phẩm phụ mang tính thể chế và tồn tại lâu bền của tham vọng chính trị được đeo đuổi dưới hệ thống quy tắc bầu cử của Mỹ – hệ thống đảng phái.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Lôgích chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s