1/ Giai đoạn tiền sử của cuộc chiến tranh tâm lý, nhóm các nhà tư tưởng

Về giai đoạn đầu và lịch sử của nó

Giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh thông tin – tâm lý bắt nguồn từ năm 1946, khởi đầu với bài phát biểu nổi tiếng của Churchill tại Fulton. Nó bao trùm cuối những năm 40 và 50. Trong những năm đó đã có sự xâm nhập và bám trụ (theo nguyên tắc của vi trùng) của gián điệp vào trong hàng ngũ lãnh đạo cao cấp của đất nước (các nhà tư tưởng của Đảng Cộng sản Liên Xô). Để có thể phân tích mối liên hệ các sự kiện, trong bài này chúng ta cần trở lại với lịch sử của giai đoạn đầu cuộc chiến tranh thông tin – tâm lý, tức là trở lại giai đoạn 1917 – 1945. Điều này có hai nguyên nhân. Thứ nhất, đám các nhà tư tưởng này, trên thực tế là kẻ thù của tổ quốc của mình, đã được hình thành từ lâu trước năm 1946. Thứ hai, những thông tin bị bóp méo về giai đoạn này được sử dụng như vũ khí tâm lý chống lại Liên Xô. Trong phần lớn các bài viết về giai đoạn 1917 – 1941, bức tranh tổng thể đã được thay thế bằng việc moi móc các sự kiện riêng biệt, bằng sự biến tấu các khái niệm trái ngược nhau, bằng các mô tả theo cảm tính, bằng sự trộn lẫn các sự việc thuộc về những thời điểm hoàn toàn khác nhau. Tất cả điều này dĩ nhiên không đưa ra được toàn cảnh khách quan. Điều quan trọng là phải hiểu được lôgích và quy luật của lịch sử. Ở đây có khó khăn là phải vượt qua những khuôn mẫu do các nhà tư tưởng của Đảng Cộng sản Liên Xô và “những người dân chủ” đã nhồi nhét suốt hàng thập kỷ. Một thực tế nữa là thời điểm đó đã vượt qua ngưỡng 40 năm từ lâu, nằm ngoài chân trời của hiện tại. Nó đã trở thành một quá khứ lịch sử, nơi mọi người hành động theo một tâm lý và động cơ hoàn toàn khác với hiện tại. Giai đoạn lịch sử đó thường được sử dụng như một chiến trường trong chiến tranh tâm lý.

Để có thể hiểu được tình thế vào đầu cuộc chiến tranh lạnh (cuộc chiến tranh thông tin – tâm lý) cũng như điều kiện hình thành lực lượng xung kích của phương Tây – nhóm các nhà tư tưởng của Đảng Cộng sản Liên Xô, ta phải xem xét từng thời kỳ của cuộc cách mạng Nga, kết thúc vào cuối những năm 30. Điểm đặc biệt là nó có không phải bốn mà là năm thời kỳ với những mâu thuẫn và đối kháng lực lượng đặc trưng. Đó là: thời kỳ tiền cách mạng với hiệu ứng kéo dài; cuộc nội chiến; cuộc đấu tranh giữa những người chiến thắng (nhóm theo đường lối cách mạng) và nhóm thực dụng; làn sóng cách mạng thứ hai; thời kỳ ổn định.

Phân tích những quy luật chủ yếu của giai đoạn trước cuộc chiến tranh tâm lý, chúng tôi nhấn mạnh những thời điểm sau.

Cách mạng tháng Mười và sự phân bố lực lượng chính trị

Thế chiến thứ nhất bắt đầu từ năm 1914 là một trấn động đối với nhân loại. Nó do các quốc gia “văn minh” và “dân chủ” gây  nên để tranh giành vùng ảnh hưởng, để phân chia lại thế giới, và để chiếm thuộc địa. Đó là cuộc chiến tranh đế quốc, và nó thể hiện rõ bản chất kẻ cướp của chủ nghĩa tư bản. Khi đó chưa có bất cứ một quốc gia cộng sản nào. Nhiều người đã trở thành nạn nhân của cuộc chém giết hàng loạt, trong đó có sử dụng mọi loại công cụ hủy diệt có thể có, kể cả hơi độc. Cuộc chiến này đã kéo theo những lợi nhuận khổng lồ.

Vào đầu cuộc chiến, ở tất cả các nước tham gia người ta như bị thôi miên bởi tác động tâm lý tập thể. Nhiều người mong đợi một cuộc sống tốt hơn nhờ vào chiến thắng nhanh chóng trước kẻ thù. Nhưng chiến tranh kéo dài, tổn thất và nỗi thống khổ tăng cao, xuất hiện sự phản kháng trong xã hội chống lại những kẻ gây nên thảm họa. Ngày càng có nhiều người nhận thấy lối thoát là một cuộc cách mạng – lật đổ tầng lớp thống trị xã hội đã gây ra cuộc chiến tranh này.

Tình thế đặc biệt phức tạp ở nước Nga. Sự thua trận của quân đội Nga hoàng, sự điều hành yếu kém, và nhận thức của binh lính về tính vô nghĩa của cuộc chiến vì quyền lợi của kẻ khác đã dẫn tới sự tan rã của đội quân khổng lồ nhiều triệu người. Sự tức giận của quần chúng ở hậu phương tăng cao. Xuất hiện sự suy đồi trong giới chóp bu cầm quyền, mà biểu tượng của nó là nhân vật Rapustin. Triết gia Nga vĩ đại di cư sau cách mạng N.A. Berdiaev đã đưa ra nhận định chính xác về tình thế lúc đó:

Sự tan rã của đế chế Nga bắt đầu đã lâu. Tới thời điểm cuộc cách mạng, chính quyền cũ đã hoàn toàn tan rã, suy tàn và kiệt sức. Chiến tranh đã kết thúc quá trình tan rã. Thậm chí không thể nói là Cuộc cách mạng tháng Hai đã lật đổ nền quân chủ ở nước Nga. Nền quân chủ ở nước Nga tự nó sụp đổ, chẳng có ai bảo vệ nó, nó không có người ủng hộ. Sự sùng đạo của người dân mà nền quân chủ vẫn dựa vào đã bắt đầu tan rã. Chủ nghĩa vô chính phủ xâm nhập giới trí thức từ những năm 60, nay đã bắt đầu chuyển sang tầng lớp nhân dân. Giới nửa trí thức tách ra từ tầng lớp nhân dân trở nên rất vô thần và thực dụng. Lòng thù hận trở nên mạnh hơn tính hào hiệp.

Trong thời gian chiến tranh trước tháng 2 năm 1917, tất cả các tầng lớp xã hội, ngoại trừ một bộ phận nhỏ đám quần thần cấp cao, nếu không chống chế độ quân chủ thì cũng chống lại Sa hoàng và nhất là các bà hoàng. Đó là dấu chấm hết cho nền độc tài. Chế độ quân chủ trong quá khứ đã đóng một vai trò tích cực cho lịch sử của nước Nga, có nhiều công lao. Nhưng vai trò ấy đã chấm dứt từ lâu. Nền quân chủ Nga dựa trên nền tảng tôn giáo đã bị Chúa trời kết tội, trước hết là vì sự chèn ép nhà thờ và đời sống tín ngưỡng của người dân, vì tư tưởng chống thiên chúa của họ, vì mối liên kết giả tạo giữa nhà thờ với nền quân chủ, vì sự thù nghịch với tinh thần đất nước. Đó cũng là sự kết tội nhà thờ về mặt lịch sử. Nhà thờ đã đánh mất vai trò lãnh đạo đời sống nhân dân”.

Kết quả là đã có một sự thống nhất hầu hết các tầng lớp xã hội ủng hộ cho cách mạng, chống lại Sa Hoàng. Cả 2 cuộc cách mạng năm 1917 (tháng Hai và tháng Mười) đều thắng lợi gần như không đổ máu. Chỉ sau thắng lợi cách mạng tháng Mười các lực lượng chính trị mới bắt đầu đối chọi, và ngày càng gia tăng. Cuộc nội chiến nổ ra, trong đó hai nhóm lực lượng hỗn hợp khổng lồ đối chọi với nhau: Hồng quân ủng hộ cách mạng, Bạch vệ phản cách mạng.

Hồng quân đấu tranh vì lý tưởng công bằng xã hội, xây dựng lại nước Nga  dựa trên quyền lợi của số đông: “hòa bình cho nhà nghèo, chiến tranh cho nhà giàu”, người bị bóc lột chống lại bọn bóc lột. Cơ sở xã hội của họ bao gồm công nhân, nông dân, binh lính và một bộ phận trí thức.

Bạch vệ chiến đấu để bảo tồn chế độ hiện hữu, và họ bao gồm hai nhóm lớn. Một nhóm muốn giữ lại những đặc quyền, tiền bạc và chính quyền bằng mọi giá, kể cả việc nước Nga bị xâm chiếm hay chia cắt; Nhóm kia là những người quốc gia, yêu nước, họ muốn cứu nước Nga khỏi nạn vô chính phủ và hỗn loạn đang tới gần. Cơ sở xã hội của họ gồm một phía là những kẻ có tiền bạc và quyền lực, phía kia là những người gìn giữ truyền thống của xã hội Nga (như Kozak, người tu hành, phần lớn giới trí thức và sĩ quan).

Chiến thắng của Hồng quân trong cuộc nội chiến là do nhiều nguyên nhân sâu xa. Trước hết là phần lớn giới nông dân – những người bảo vệ truyền thống xã hội – đã ủng hộ cách mạng. Berdiaev viết trong cuốn sách Cội nguồn và tư duy của CNCS Nga (M.: Khoa học, 1990):

“Cách mạng Nga chỉ có thể là một cuộc cách mạng ruộng đất, dựa trên nền tảng trước tiên là sự bất bình của nông dân và nỗi căm ghét xưa nay của họ đối với giới địa chủ và công chức. Nông dân Nga vẫn chưa thể quên được nỗi thống khổ thời nông nô, về sự hạ thấp phẩm giá con người của họ. Nông dân đã sẵn sàng trả thù cho đời ông cha họ. Thế giới của tầng lớp thống trị đầy đặc quyền đặc lợi, chủ yếu là giới quý tộc, văn hóa và đạo đức của họ, bề ngoài, thậm chí cả tiếng nói của họ, hoàn toàn xa lạ đối với nông dân, cứ như thế giới của chủng tộc khác, của người ngoại quốc”.

Phần lớn quân đội Bạch vệ, nhất là đội quân tình nguyện của Denikin, đã chiến đấu dũng cảm, nhiều người sẵn sàng hy sinh cả mạng sống vì mảnh đất Nga. Nhưng đồng minh của họ là quân đội của 14 quốc gia khác đã xâm chiếm lãnh thổ Nga, và giúp đỡ Bạch vệ cả vũ khí, tiền bạc, sức mạnh quân sự. Đám chóp bu của phong trào Bạch vệ đã dựa vào nước ngoài, hợp tác với chúng, và trong con mắt của nhân dân họ trở thành lực lượng xa lạ, bán nước, phục vụ bọn xâm lược. Sự biến hóa của đội quân Bạch vệ đã được M. Bulgakovưi thể hiện rất rõ trong tác phẩm Đội cận vệ Trắng [Minsk, Bách Khoa toàn thư Xôviết Bélarutsia, 1998].

Chủ nghĩa cộng sản Nga trở thành người kế thừa trực tiếp những truyền thống tinh thần trước đây. Theo lời N.A. Berdiaev:

Nó có được những phẩm chất của tâm hồn Nga, trái ngược hoàn toàn với xã hội tư sản thế tục. Với lòng một đạo, tính giáo điều, nỗi mong ước có được công bằng xã hội và thiên đường ở thế gian, khả năng hy sinh và chịu đựng đau khổ, nhưng đồng thời là tính tàn ác và thô bạo, đó mãi mãi vẫn sẽ là đức tin Nga vào con đường riêng của nước Nga… Nó thích hợp với việc người dân Nga không có khái niệm kiểu La Mã về sở hữu và đạo đức tư sản, thích hợp với tính cộng đồng kiểu Nga, có hình thức tôn giáo”.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin tâm lý – TC2 1999.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s