Nếu muốn tất cả được đánh giá trên cùng một bình diện (không cần thiết phải vượt quá “cái đầu”) thì cần phải nắm bắt, theo suy luận của Vương Phu Chi, giá trị đặc thù, từ hệ thống thao tác triết học, cho phép đào sâu hơn hình thức biểu đạt. Các lý thuyết sai lầm và tư duy què quặt, Vương Phu Chi nói, đều xuất phát từ nguyên tắc sai lạc, khi định giá trị cho tư tưởng – tạo ra sau đó cách nhìn trường quy, là một học thuyết – khi gắn liền với tất cả nó sẽ tồn tại trong tất cả và đứng đầu trong hệ thống của chúng, các lý thuyết sai lầm và tư duy què quặt này dẫn tới không tránh được việc “làm sai lệch” tất cả mọi hình thái mẫu mực khác của thực tại để quy phục chúng và sự thống nhất, cùng (Chấp nhất dĩ cường quân hồ vạn – b’); khi đó sự thống nhất đích thực của tư tưởng cần phải đến từ những cái không tạo ra một đặc ân riêng nào (và khi làm được việc ấy), sự thống nhất là hoàn toàn tự nhiên nhằm thể hiện mối gắn kết lẫn nhau từ bên trong với tất cả thực tại: nó sản sinh từ cái logic nội tại – cái không phải là cái gì khác ngoài sự thống nhất của “Thiên”.

Bởi vì “Đức của Thiên”, lời hào từ của hình thức này cho ta biết như vậy, là chính sách rằng, đối với Thiên, “nó không thể trở thành đứng đầu” (bất khả vi thủ – c’). Trong thực tế, Vương Phu Chi chỉ rõ, quá trình lớn bắt rễ từ hiện thực không bao giờ hiện ra trong một “thời điểm” hoặc một “sinh thể” đặc thù “như những cái khác theo đuổi”. Nếu ta cho ngày đông chí như là ngày khởi đầu thì đây chỉ là một dịp tính toán thuận tiện; hay nếu đây là mùa xuân thì ta nắm được ngay từ đầu năm; qua quan hệ với dấu hiệu của mùa vụ. Nhưng trong sự vận hành liên tục của nó, sự vận hành không ngừng giữa “sống và chết”; “ánh sáng và bóng tối”, tiến trình vận động thế giới vĩ đại không thừa nhận ngay từ đầu sự ưu việt để nó trở thành đặc thù. Như vậy, nếu ta bắt đầu để không “đưa lên đầu”, cũng không ưu đãi thì đây là “Thiên”, trong sự khác biệt cơ bản cũng như tính toàn vẹn: đây là bản tính (như là cái nội tại). Bởi thế “Thiên” Vương Phu Chi nói, khi lợi dụng thêm lần nữa các khái niệm liên kết để “trở thành yếu tố cấu thành” và để “hành chức” (thể và dụng), “không phải để” trở thành yếu tố cấu thành vốn là thuộc tính của nó (Thiên vô tự thể – d’), nhưng “mở ra triệt để chức năng hành dụng qua tuần hoàn các mùa, cội nguồn của các sinh thể” “nó không phải là yếu tố cấu thành đặc thù mà nó không phục vụ (để “thực hiện chức năng” ấy) và, đồng thời “nó không phải là chức năng hành dụng đặc thù nhưng nó không trở thành yếu tố cấu thành riêng (vô thể bất dụng, vô dụng phi kỳ thể  – e’). Điều đó có nghĩa là, nói cách khác, Thiên không thể tách rời thành một hữu thể cá biệt, thành một phần của những cái khác, nhưng phù hợp với bước vận hành của thế giới trong tổng thể, được đồng nhất với tiến bộ vĩ đại của thực tại. Mặt “hữu thể” trở thành thuộc tính của nó để trở thành tổng thể của chức năng hành dụng của các sinh thể và của sự vật, của sự đổi mới không ngừng.

IV/ Chuẩn mực của đồng đội: khả năng tạo sự đồng thuận

Một sự khởi đầu chỉ có sức nặng nếu nó chỉ diễn ra như sự tiếp nối; một ảnh hưởng chỉ có ý nghĩa trong tương quan với những gì nó thực hiện để tự mở rộng: khả năng trải rộng và phô bày năng lượng dương chỉ có thể hiểu được trong quan hệ với khả năng đối nghĩa – tức là sự đậm đặc hóa và vật thể hóa – của năng lượng âm, cái xuyên thấm từng phần và tạo ra sự sinh sôi nẩy nở: “Thiên” của người người Trung Hoa không đứng tách rời trong dáng vẻ siêu nghiệm của nó mà chỉ thuần túy là không thể chia lìa với đất. Chính từ mối quan hệ của hai khả năng này mà ta biết, như đã thấy, rằng sự khởi nguyên của trời không điều khiển sức mạnh sáng tạo (nó rũ bỏ khỏi nó những gì của cái vốn nằm trong quan hệ với hoạt động của nó không dẫn tới cho nó một vật thể – vật chất (mà nó đáp ứng để nhào nặn và để thông tin), mà đối với nó phải là kẻ đồng thuận đích thực – âm là nguồn năng lượng thúc đẩy tương tự như dương – và tiến trình của hiện thực, nhờ vậy, diễn ra qua sự tương tác và từ phương diện nội tại.

Đồng thời, cái logic tương liên này, nếu gắn kết chặt chẽ, nó trở thành sự hỗ trợ mạnh nhất cho cách nhìn mang tính tôn ti của người Trung Hoa, giúp cho họ định hướng đúng đắn về suy nghĩ: nó được ghi sẵn trong bản chất mà khả năng tự tiếp diễn và tự sinh tạo (khả năng của âm) cũng là đạo đức như một sự khởi nguyên và khả năng hướng đạo, bởi vì chúng được coi như là sự phối tác hài hòa trong tổng thể, được dựa hơn nữa, một cách chặt chẽ, trên cùng một bình diện giá trị, sự thấp kém mang tính chất phục tùng của người “vợ” trong quan hệ với người “chồng”, hoặc từ “chư hầu” trong quan hệ với “chính quốc”. Bởi thế, vị thế này của kẻ đồng thuận, thật ra mà nói, thì nó không thể quá mơ hồ: nó đồng thời vừa cùng một bình diện và vừa thấp hơn, nó cũng cần thiết như mọi cái khác – và ngay từ cội nguồn – nhưng bởi sự thần phục của nó (ta có thể nói như vậy, bởi vì chức năng của âm là chịu để xuyên thấm qua từ bên này sang bên kia và chuyển hóa: bằng chính sự tha hóa của nó). Không nghi ngờ gì chính từ tầm quan trọng của một lực níu kéo vũ trụ như vậy tạo ra nền tảng tồn tại, khi thiếu đi tất cả mọi sự quy chiếu mang tính thần học cạnh tranh nhau, từ sự lý tưởng hóa này tính quy phục mà chúng ta hiểu được suốt trong quá trình lịch sử của mình, người Trung Hoa không bao giờ tưởng tượng ra một quan hệ chính trị khác ngoài cái “lãnh đạo” và cái “đi theo” – vua và bề tôi; không bao giờ tiếp nhận một chế độ khác ngoài quyền lực quân chủ thường được đồng nhất với quyền lực tối cao của Thiên và tương ứng là chính quốc – chư hầu. Tự do, do đó chỉ được nhận một cách trái lại, là một phần gắn chặt với sự siêu thường (khi mở ra một cõi ngoài cho sự thần phục này, bởi mối quan hệ tương liên mà từ đó mở quá trình phát triển). Trong khi cái Đức được bổ sung bằng chủ nghĩa xu thời (mở rộng ra là khả năng tiếp diễn và “tự sinh tạo”), khi hủy bỏ, nhân danh cái hòa điệu, sự thể hiện hợp pháp của mọi sự đối kháng, là cái tạo ra rào cản một cách hữu hiệu nhất – ngày nay ở Trung Hoa người ta vẫn quan niệm như vậy – về mọi mưu toan giải phóng.

Cũng từ hai khả năng đối nghịch vốn tương liên với nhau và tự thực hành ngang nhau này, chúng ta tìm thấy chứng cứ qua hành vi rằng các khả năng “khởi đầu” và “phát triển” (thăng – trưởng, nguyên – hanh) được bổ sung bằng năng lượng dương, ở Địa cũng như ở Thiên. Lời Thoán tương ứng với quẻ kép thứ hai – Khôn, do đó cũng khởi đầu bằng các thuật ngữ như trường hợp quẻ Càn, là quẻ khởi nguyên của năng lực, ở Thiên “khởi đầu” bằng sự khởi nguyên liên tục trong sự vận hành của nó tương ứng với Địa, “được sinh ra” (Thủy – sinh – f’) bắt nguồn từ vật chất; ở đây nó phải là “sự hiện thực hóa vật thể”, ở phía khác nó là “thuộc tính” đạo đức (hình – tính – g’) mà nó mở rộng ra tại đây. Nhưng sự ảnh hưởng không thể tự mở rộng ra một cách có hiệu quả, khi tán truyền năng lượng của nó, nếu kẻ đồng thuận không có mặt ở đây để nhìn thấy năng lượng ấy: bởi thế, sự tiếp nhận chỉ đồng thời với sự khởi nguyên và cả hai cực của quá trình phát triển, Thiên và Địa, Vương Phu Chi kết luận, không có uqan hệ có sẵn từ trước giữa chúng. Cũng như vậy khả năng khởi sự của Địa là song song tồn tại với khả năng khởi sự của Thiên và do đó cũng “đầy đủ” như cái vốn thường viện dẫn một cách tượng trưng “độ dày” của nó, độ dày cho phép nó “mang trong nó” tất cả mọi hữu thể “không trừ cái nào”. Còn khả năng thăng, trưởng và phô trương riêng rẽ ở Địa, là nhờ ở sự thần phục của nó trước Thiên: “bởi vì nó kết tạo ra chứng cứ về sự trống rỗng hoàn hảo” để mở thông ảnh hưởng với cái “mênh mông” mà nó giữ nguyên trong nó; và sự xuyên thấu này trong chiều sâu của nó tự chuyển hóa thành “sự chiếu rọi” ra bên ngoài: Vương Phu Chi cho rằng khi phô trương một cách đầy đủ các mầm mống năng lượng của trời, đất không chỉ tạo sinh ra các hữu thể, mà nó còn mang tới cho chúng trạng thái đậm đặc và làm cho chúng sinh sôi nảy nở. Nhờ nó, “sinh khí” không ngừng được “truyền từ bên này sang bên kia” và khi được cá thể hóa thì trở thành cái cảm giác được và mang tính cụ thể; “sự kết quả, khai hoa” của thực tại được phô bày một cách sâu sắc trước mắt chúng ta.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: François Jullien – Các biểu tượng của nội giới hay cách đọc triết học về kinh dịch – NXB ĐN 2007.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s