Giai đoạn ổn định

Giai đoạn kết thúc của bất cứ cuộc cách mạng nào là quá trình ổn định, tức là xã hội trở về với cội nguồn, truyền thống của mình, nhưng trên một nền móng cao hơn. Nếu không xã hội sẽ tàn lụi bởi những xung đột bên trong và bất ổn dưới những tác động từ bên ngoài. Một trong các kết quả của làn sóng cách mạng thứ hai là những người ủng hộ đường lối “cách mạng” thứ nhất đã củng cố rất vững chắc trong bộ máy Đảng – Chính quyền. Đó là một tập hợp phức tạp những con người, phần đông trong số này không hài lòng với chính sách của Stalin. Họ coi ông ta là mối cản trở cho công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, thậm chí là kẻ phản bội cách mạng vô sản toàn thế giới. Thế lực của họ có thể nhận thấy qua khả năng thay đổi lớp lãnh đạo Đảng trong đại hội lần thứ 14. Một số người trong đường lối thứ nhất sẵn sàng liên kết với bất cứ ai để chống lại Stalin. Thậm chí phương Tây đối với họ còn ít tệ hại hơn. Họ là những người theo đường lối của Trotsky.

Thực chất của những khác biệt lý tưởng được thể hiện rõ trong “Cương lĩnh Liên đoàn những người Marxist – Leninit” (nhóm Tuitin), trong đó có những lên án gay gắt hành động của Stalin. Trong tài liệu này, phần lên án biên bản của BCH TW về Hòa ước Brest có nói:

Những phần trích tài liệu chứng tỏ Stalin phát biểu về hòa ước hoàn toàn khác Lenin. Lenin tiếp cận vấn đề Hòa ước Brest như một người Bolsevich quốc tế, còn Stalin lại như một người Bolsevich quốc gia. Đối với Lenin, Hòa ước Brest chỉ là phương tiện kéo dài thời gian cho đến khi nổ ra cuộc cách mạng XHCN toàn diện, vì “ở phương Tây có phong trào quần chúng, nhưng cách mạng còn chưa bắt đầu”. Quan điểm của Stalin lại là “ở phương Tây không có phong trào cách mạng, chẳng có yếu tố, mà chỉ có tiềm năng, mà tiềm năng thì chúng ta không thể dựa vào”. Lenin nhiệt thành tin tưởng vào phong trào cách mạng ở phương Tây và nhìn thấy nó. Stalin lại không tin vào nó (tiềm năng thì chúng ta không thể dựa vào) và không thấy nó (chỉ có tiềm năng). Stalin trên thực tế từ lâu đã phủi tay với cuộc cách mạng thế giới”.

Vào đầu những năm 30, sau khi hoàn thành hợp tác hóa và thiết lập nền tảng cho nền công nghiệp hiện đại, đã có những thay đổi từ từ trong ý thức xã hội. Người ta ngày càng hiểu rằng việc tiếp tục chối bỏ truyền thống trong quá khứ, chối bỏ lịch sử, tuyệt đối hóa các mâu thuẫn xã hội sẽ dẫn tới ngõ cụt. Liên Xô không thể cứ chỉ là nền móng cho cách mạng ở phương Tây. Xuất hiện những xung đột về ý thức hệ. Phe đường lối “cách mạng” có lợi thế là tính ỳ trong ý thức xã hội và nắm phần lớn các tổ chức Đảng, chính quyền các cấp. Người dẫn đầu cho đường lối quốc gia là Stalin, cùng ông có những người ủng hộ trong cơ quan chính quyền cao cấp. Nhưng Stalin không có tất cả quyền hành, và cần phải luồn lách. Nhìn chung thì tầm mức của sự đối đầu ngầm này có thể sánh được với tầm mức của cuộc nội chiến.

Xung đột là không thể tránh khỏi, chẳng còn chọn lựa nào khác, bởi vì tiếp tục đường lối “cách mạng” là đi vào ngõ cụt (còn nếu nói về tương lai thì sẽ dẫn tới thảm bại trong cuộc chiến tranh sắp tới). Để có được thắng lợi phe quốc gia cần phải thay thế phần lớn cơ quan Đảng và chính quyền. Tầm mức to lớn của sự đối đầu là nguyên nhân làm cho giai đoạn ổn định có quá nhiều tổn thất về nhân mạng. Sự thay thế các cơ quan Đảng và chính quyền được tiến hành bởi Bộ dân ủy Nội vụ (NKVD), trước hết đụng chạm tới các cán bộ Đảng lớn tuổi, những người tham gia cách mạng, và nó bao trùm mọi cấp chính quyền cơ sở. Tổng số nạn nhân gấp một lần rưỡi số người Nhật chế do bom nguyên tử Mỹ ném xuống Hirosima và Nagasaki.

Các sự kiện năm 1937 và tầm mức của nó có hàng loạt nguyên nhân. Những người cách đó chưa lâu vừa thực hiện cuộc cách mạng được giáo dục tinh thần không thương xót kẻ thù – đó là tâm lý thời đại. Mặt khác, như Berdiaev viết, đó là một quá trình quần chúng, nhiều lúc không thể kiểm soát được. Nó bao gồm cả sự đối chọi căng thẳng kéo dài giữa những con người, cả tham vọng của những người thực hiện muốn được thăng tiến, cả sự trả thù cá nhân, và cả sự khiêu khích của những người ủng hộ đường lối thứ nhất. Cả yếu tố hoạt động của mặt trời cực đại trong năm 1937 cũng làm tăng thêm sự kích động của con người. Nhẽ ra ở đây có nhiều việc có thể tránh được. Thảm họa nỗi thống khổ của rất nhiều con người vô tội đã đóng một dấu ấn nặng nề lên giai đoạn này.

Nhưng nói chung các sự kiện giữa những năm 30 có nền tảng không phải là mối quan hệ hay ý muốn của cá nhân này hay khác, mà là hậu quả của sự phân bố lực lượng trên toàn cầu. Chính sự thất bại của đường lối thứ nhất, sự trở về với cội nguồn lịch sử, trở về với ý nguyện của dân chúng là một sự cần thiết lịch sử. Chính quyền thay đổi ở tất cả các cấp. Có 500 nghìn người được đưa vào các vị trí quan trọng. Có sự thay đổi tận gốc các định hướng. Nhiều nhà khoa học và chuyên gia như Ramzin, Chalưgin, Luzin và nhiều người khác bị tù đày thời làn sóng “cách mạng” thứ hai thống trị, đã được thả. Nhiều nhà sử học và hoạt động nghệ thuật Nga cũng trở về. Một số không sống được tới ngày tự do như Platonov, nhưng công trình của ông về thời kỳ tối tăm đã được in. Hàng loạt những nhà sử học được thả trở thành viện sĩ, viện sĩ thông tấn, được thưởng huân chương. Nhiều phim về lịch sử nước Nga, giáo dục niềm tự hào về tổ quốc và dân tộc mình được phát hành. Đất nước tôn vinh những con người trên tàu Cheluskin, tàu Papanin, đội bay Chkalov. Các truyền thống quân đội Nga như: cầu vai quân hàm, cấp tướng… được phục hồi. Quan điểm về nhà thờ chính thống giáo cũng thay đổi. Hiến pháp 1936 xóa bỏ mọi hạn chế xã hội tồn tại trong hiến pháp đầu tiên, và tuyên bố mọi công dân Xôviết đều bình đẳng.

Trên một nghĩa nào đó thì sự đối chọi giữa phe đỏ và trắng đã kết thúc (mặc dù vẫn còn đó những con người, vẫn nhớ những trận chiến trong quá khứ). Stalin trên thực tế đã thực hiện những lý tưởng yêu nước của một bộ phận phong trào bạch vệ. Ông ta xây dựng một cường quốc dựa trên tâm hồn nước Nga, và điều này ảnh hưởng tới quan điểm của nhiều người di cư như A.I. Denikin, người đã nhiệt tình tham gia trong chiến tranh ủng hộ Liên Xô. Stalin chỉ là người dẫn đường cho một quá trình tất yếu của lịch sử. Về mặt tư tưởng, tới cuối những năm 30 đất nước đã đi tới một sự kết hợp hài hòa giữa lý tưởng XHCN (công bằng xã hội) và tính quốc gia (truyền thống dân tộc), và điều này đã tăng gấp bội sức mạnh của nó. Liên Xô về những chỉ tiêu kinh tế đã vượt lên hàng thứ hai trên thế giới và đứng hàng đầu ở châu Âu. Có những bước nhảy vọt ở mọi cấp độ. Trong cuộc Chiến tranh Vệ quốc người dân đã sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc mình.

Khi phân tích những sự kiện kể trên, điều quan trọng là phải tránh lẫn lộn những giai đoạn khác nhau, trong mỗi giai đoạn đều có những mâu thuẫn, phân bố lực lượng, nhiệm vụ, mô hình lý luận riêng của mình. Nhưng nhiều khuôn mẫu lại dựa trên chính sự trộn lẫn đó. Ví dụ, luận điểm cuộc đấu tranh giai cấp càng gần tới CNXH càng gay gắt. Quả thực cuộc đấu tranh ngày càng gay gắt, nhưng như chúng ta thấy nó không phải là cuộc đấu tranh giai cấp, mà ở đây có những lực lượng hoàn toàn khác tham gia. Thậm chí, những trích dẫn của Lenin lấy từ giai đoạn này, khi giải quyết những nhiệm vụ khác có thể được sử dụng chống lại CNXH. Chính điều này đã được đội quân thứ năm – những nhà tư tưởng của Đảng Cộng sản Liên Xô thực hiện.

Sự tiến hóa cả các nhà tư tưởng

Lịch sử những năm 20 – 30 phản ánh cuộc đấu tranh để thiết lập trạng thái cân bằng của xã hội sau cuộc cách mạng. Song song với những sự kiện của thời kỳ này, diễn ra quá trình tiến hóa về lý luận. Trong giai đoạn chín muồn của cách mạng, đã diễn ra quá trình phân chia thành hai phe theo đúng quy luật. Vào thời gian này Lenin buộc tất cả phục tùng một mục đích duy nhất, và bước đi của ông là do sự cần thiết phải chuẩn bị cho cuộc cách mạng, nơi mà đường phân định diễn ra giữa “có” và “không”. Ông chống lại việc xóa nhòa mâu thuẫn chủ yếu, chống lại bọn đảng viên xã hội – cách mạng, mensevik, các nhà hoạt động tôn giáo, những nhà triết học. Vào thời điểm gần tới cuộc cách mạng, ai không chú tâm tới điều chính yếu, “xòe ngón tay thay vì nắm lại thành nắm đấm”, thì có thể thất bại. Hành động của Lenin vào thời điểm đó là thích hợp với một tình thế cách mạng cụ thể. Cuộc nội chiến có đặc điểm là sự phân cực hết mức các lực loượng trong nước. Betran Rassel trong cuốn sách của mình kể về cuộc nói chuyện với Lenin năm 1920, đã nhấn mạnh sự tập trung của ông vào vấn đề chính. Nhưng tất nhiên sau cách mạng phải tiến hành phân tích hiện tượng theo cách mới, với toàn bộ tổng thể của nó.

Trong hai đường lối được hình thành sau khi cách mạng thành công, đường lối thứ nhất cách mạng thường Lenin trở thành người đứng đầu đường lối thực dụng thứ hai. Trong khi chưa có điều kiện cho một cuộc cách mạng thế giới, cần phải xây dựng XHCN ở một nước, có tính tới những yếu tố tác động cụ thể và sử dụng tất cả những kinh nghiệm tốt nhất của chế độ tư sản. Quan điểm này là thích hợp cho tình huống thực tế.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin tâm lý – TC2 1999.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s