Theo tin từ Bộ Tư pháp Mỹ, “ở khu vực Đông Nam Á, cho đến năm 2004, chỉ có Việt Nam và Lào là không có chi phí cho hoạt động lobby, còn các quốc gia và vùng lãnh thổ như Campuchia, Hong Kong, Indonesia, Malaysia, Myanmar, Singapore, Thái Lan, Philippines đều có các khoản chi phí từ vài chục nghìn đến hàng triệu USD cho hoạt động lobby ở Mỹ. Mục tiêu lobby của các quốc gia này là vận động để Mỹ ủng hộ trong các mối quan hệ chính trị, thương mại quốc tế, nhất là được hưởng quy chế “tối huệ quốc” trong vấn đề về thuế quan, hàng xuất khẩu vào Mỹ hay để Mỹ tách vấn đề nhân quyền theo giá trị của Mỹ ra khỏi vấn đề quan hệ kinh tế… Bên cạnh những hoạt động lobby của chính phủ, các tập đoàn kinh tế, thương mại của các nước cũng chi những khoản không nhỏ (có thể gấp hàng chục, hàng trăm lần chính phủ) cho các hoạt động lobby phục vụ lợi ích của chính các tập đoàn, các công ty này ở Mỹ.

Chính vì lợi ích do lobby mang lại là cực kỳ to lớn nên hiện nay, ngoài các tập đoàn tư bản Mỹ, một số tổ chức phi chính phủ cũng đang có hoạt động lobby và đáng chú ý là một số tổ chức phản động trong cộng đồng người Việt ở Mỹ cũng có những hoạt động mang tính lobby để tác động vào các chính sách không có lợi cho Việt Nam từ Quốc hội Mỹ. Chẳng hạn tìm cách ngăn cản quá trình bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, thông qua đạo luật về nhân quyền ở Việt Nam, hay đạo luật về chống bán phá giá cá basa… Tuy nhiên, cũng có những lobby đại diện của một số công ty Mỹ đã vận động Quốc hội và Tổng thống Mỹ bỏ cấm vận kinh tế đối với Cuba, thúc đẩy ký Hiệp định thương mại với Việt Nam…

Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, hoạt động vận động hành lang đã được các cơ quan lập pháp và hành pháp Mỹ chấp nhận, còn các chính phủ hay các công ty, doanh nghiệp nước ngoài thì coi đây là một hoạt động tất yếu khi quan hệ với Mỹ. Do đó, muốn gặt hái lợi ích từ chính quyền Mỹ, từ thị trường và từ xã hội Mỹ, thì phải biết lobby. Không có phương tiện lobby thì doanh nghiệp trong nước sẽ không có khả năng tiên đoán những hậu quả không lường được, và cũng sẽ không có khả năng trở tay khi bị gây sự từ những nhóm đặc quyền ở Mỹ. Lobby ở Mỹ là một vấn đề mà nếu không tính đến, cái giá phải trả sẽ rất lớn, từ những thiệt hại cụ thể đến những hệ quả lâu dài hơn. Bên cạnh đó, cần hiểu rõ ý nghĩa của lobby là luôn gắn liền với hoạt động của các nhóm lợi ích trong nền chính trị Mỹ để có thể đưa ra những chính sách phù hợp để áp dụng trong quan hệ thương mại song phương, nhất là qua các vụ tranh chấp thương mại quốc tế. Ra đời và tồn tại trong hơn 200 năm qua, hoạt động lobby hầu như đã thâm nhập vào toàn bộ các lĩnh vực và các ngành sản xuất, kinh doanh tại Mỹ. Hoạt động này đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong nền chính trị Mỹ đến mức, không ít nghị sĩ Hoa Kỳ đã từng phát biểu rằng, thật khó tưởng tượng được sự vắng của các chuyên gia lobby đối với hoạt động của Quốc hội Hoa Kỳ.

Trong quan hệ kinh tế, Mỹ đang là một đối tác tiềm năng trên nhiều lĩnh vực của Việt Nam, nên để đạt được những mục tiêu mong muốn trong làm ăn với Mỹ, Việt Nam cần có những hiểu biết về hoạt động lobby tại Mỹ. Để làm tốt công việc lobby ở Mỹ chúng ta cần quan tâm tới một số vấn đề sau:

Thứ nhất, công bằng đối với người Mỹ có nghĩa “sòng phẳng” nhiều hơn là “đúng” theo nghĩa đạo đức. Khi chính quyền Mỹ có áp lực từ Hiệp hội Thủy sản Mỹ (trực tiếp hay gián tiếp qua các dân biểu của họ) và lấy lý do nào đó để ngăn chặn một nước đưa tôm, cá vào Mỹ, mà nước xuất khẩu không có tiếng nói và một phần lực mạnh mẽ thì phải chấp nhận thiệt thòi. Nguyên tắc này áp dụng cho cả người Mỹ với nhau.

Thứ hai, hoạt động lobby ở Mỹ tuy công khai nhưng giá trị chính lại nằm ở những hoạt động “hậu trường”, vì các cuộc gặp gỡ giữa chính phủ và chính phủ thường có giá trị rất giới hạn. Các chính khách khi gặp nhau thường phải giữ kẽ, phải theo bài và không quan chức nào muốn xem là vì áp lực trực tiếp của một chính phủ khác mà phải thay đổi chính sách. Cho nên những nước khôn khéo biết làm việc với Mỹ thường thương lượng, dàn xếp mọi vấn đề trước khi gặp nhau để chính thức hóa.

Thứ ba, phải tìm hiểu thấu đáo hệ thống quyền lực chính trị ở Mỹ. Chúng ta đều biết rằng cơ quan quyền lực cao và mạnh nhất ở Mỹ là Quốc hội – gồm Hạ viện với 435 dân biểu có nhiệm kỳ 2 năm và Thượng viện với 100 thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ 6 năm. Hiến pháp Mỹ quy định nhiệm kỳ 2 năm cho dân biểu là để các vị này luôn bị áp lực phải phục vụ dân vì phải đi vận động dân bầu lại cho mình 2 năm một lần. Vai trò của thượng nghị sĩ là để cân bằng những đòi hỏi quá đáng từ Hạ viện vì các thượng nghị sĩ không bị áp lực tranh cử nặng nề như các dân biểu. Quyền lực của Quốc hội phần lớn dựa trên vai trò làm luật theo nhu cầu, nguyện vọng của dân và chuẩn chi ngân sách nhà nước. Do Quốc hội Mỹ nắm hầu bao nên cơ quan này có quyền chi phối mọi hoạt động của cơ quan hành pháp. Tổng thống có ký hiệp định với quốc gia nào mà Quốc hội không duyệt thì hiệp định đó sẽ không có hiệu lực. Quốc hội muốn gì, nếu không ảnh hưởng lớn đến an ninh, quyền lợi, chiến lược của quốc gia thì thông thường phía hành pháp đều xuôi theo. Ở Mỹ, Quốc hội thực sự là cánh cửa để doanh nghiệp, tập thể, hội đoàn tác động trực tiếp nhằm cải thiện quyền lợi của họ.

Thứ tư, tại Mỹ khi có xung đột quyền lợi thì một trong những nguyên tắc chính để tạo cân bằng là thương lượng. Khi hai bên không thể tự giải quyết ổn thỏa thì mới đem nhau ra tòa hay để cho phía thứ ba đứng ra giải quyết. Đây là giải pháp cuối cùng vì rất tốn chi phí và thời gian.

Đầu tư vào các hoạt động lobby khá tốn kém. Nhưng đây là phương pháp ngừa bệnh cho nên thực ra còn rẻ hơn nhiều so với chi phí chữa bệnh. Kinh nghiệm của các nước làm lobby hữu hiệu với Mỹ là dùng các chuyên gia lobby có thế lực ở Mỹ. Người nước ngoài khó có kiến thức, quan hệ, tư cách pháp nhân cần thiết để tiếp cận dễ dàng với chính giới Mỹ. Trong phạm trù kinh tế, thương mại, nếu muốn làm ăn trên quy mô lớn và lâu dài với Mỹ thì cần phải có một chiến lược, chương trình lobby cụ thể.

Như vậy, có thể nhận thấy, vận động hành lang là một hoạt động có hai mặt: một mặt, nó là phương thức có hiệu quả rất lớn để tác động đến hoạt động cùa Quốc hội, cũng như nâng cao tính hiệu quả trong hoạt động của đại biểu Quốc hội và cũng là một hình thức để giới lập pháp nhận được các thông tin và yêu cầu của một bộ phận trong xã hội. Nhưng, mặt trái của nó là dễ bị các bộ phận khác nhau lợi dụng, tác động trực tiếp vào quá trình lập pháp, uốn hoạt động lập pháp theo hướng có lợi nhất cho quyền lợi cục bộ của mình. Theo khía cạnh đó, vận động hành lang thường được đánh giá là một hiện tượng mờ ám mang tính mua chuộc, không minh bạch. Trong hoạt động vận động hành lang, các nghị sĩ cũng có thể bị các nhóm lợi ích mua chuộc. Khắc phục điểm yếu này, pháp lậut phải có các quy định về tính minh bạch, công bằng của hoạt động lobby. Và quan trọng hơn là trách nhiệm của các nghị sĩ, một nghị sĩ chân chính cần cảm nhận dược sức ép từ các cuộc vận động kiểu này để xác định và giữ vững lập trường của mình.

Vận động hành lang sẽ không dẫn đến việc lệch lạc của công tác lập pháp, nếu nó được sử dụng đúng đắn – tức là như một kênh để nắm bắt các nguyện vọng và đòi hỏi của một bộ phận dân cư. Nếu được tổ chức tốt, việc vận động cho sự ra đời hoặc vận động để ngăn cản sự ra đời của luật có thể lại là một yếu tố để phát huy phản biện xã hội, nâng cao tính dân chủ trong xã hội.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Lê Quốc Lý – Lợi ích nhóm, thực trạng và giải pháp – NXB CTQG 2014.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s