V/ Cách ứng xử của con người và sự vận hành của thế giới

Quẻ kép đầu tiên, Càn, được tiếp nhận trong nhãn quan của “nhà Minh triết” mà sự bình dị luôn hoàn hảo và ông tuyệt đối đi theo con đường của Đạo: các hào tạo sinh của quẻ, do vậy, mang lại lần lượt viễn cảnh của con rồng vốn biểu trưng cho khả năng về giai đoạn tuyệt đối qua sự phát triển không thể ngăn cản được của nó. Quẻ kép thứ hai, Khôn, được tiếp nhận trong nhãn quan của “bậc hiền nhân” vốn được cảm tác từ tấm gương mà ông nhẫn nại tìm kiếm, bằng nỗ lực của chính ông ta, để bắt chước tấm gương ấy: như vậy các hào tạo sinh của quẻ không phô ra sự tiếp diễn mang tính luận đề mà là một sự biến đổi lớn lao các định hướng và các hình tượng. Như vậy, ngay từ sự nhìn nhận đầu tiên, chúng bị phân tán cũng giống như mọi nỗ lực của ông ta. Cho nên, hai khả năng là hai chế độ và kết quả tương tự là hai cách đọc: quẻ “thứ nhất đặt ra cho ta ngay lập tức về cấu trúc thống nhất và hệ thống của nó bao nhiêu thì trong trường hợp quẻ thứ hai, sự tương hỗ liên kết các quần thể môtíp vốn chỉ được tỏa ra bằng sự liên hợp lại tịnh tiến và tỉ mỉ bấy nhiêu.

Một sự khác biệt nư vậy vốn có trong quẻ kép, trong thực tế, được biện minh theo cách riêng rõ ràng từ trường hợp của hai quẻ đầu. Trời vốn là nền tảng thống nhất và đồng nhất trong khi đất lại bị phân mảnh giữa các điểm chủ yếu của nó; và tương tự, tất cả mọi sinh thể, kể từ khi chúng hiện diện (nhờ năng lượng vật chất hóa của Đại), chỉ có thể được nhìn nhận từ sự thay đổi của các tiểu diện. Ở cấp độ của trời, đường đi được tạo ra bằng một tia chớp nhưng ở cấp độ đất ta lại phải tìm xuống tận sự khác biệt cá thể và tất cả mọi sự phức tạp của cái cụ thể: với tính chất dứt khoát, quyết định, của “sự khởi nguyên” từ đó, diễn ra “sự hoàn thiện” chậm chạp và quanh co của các sự vật; cái nhìn thoáng qua, cái nhìn tổng thể không còn khả dụng nữa: ta phải đi vào sự phân đoạn của thời gian, vào các phân mảnh của hình tượng. Như vậy, đối với độc giả sẽ là việc “chơi” những ca khúc về các môtíp, vừa thừa nhận một cách liên tục các hình thái khác nhau của chúng, vừa theo đuổi chúng theo đường thẳng trong từng chi tiết. Và cũng như đất kiên nhẫn gieo mầm và tạo quẻ, người ta cũng cần học cách để làm sáng tỏ các ý nghĩa.

Phù hợp với ý nghĩa của cái tổng thể của quẻ, cần trở lại hào sơ, nền tảng của quẻ để chúng ta phải thận trọng chống lại sự mạo hiểm tích lũy âm gây cản trở sự phát triển của dương: sự cô đặc được thực hiện này cho thấy một cách tự nhiên hình ảnh của nó trong sự “đông cứng”. Nếu biết trước ngay từ đầu sự nguy hiểm này, ta không cần đợi khi đạt tới giai đoạn tích lũy để khởi động, để dự phòng, mà trái lại, để biết phát hiện khuynh hướng này, khi nó mới là một điểm. Hào từ: Lý sương kiến băng chí – Đạp lên sương thì biết băng dầy sắp đến, “sương giá” cũng tương tự như sự “tinh thể hóa” cực tiểu là chỉ dẫn đầu tiên cho sự đông tụ và cho sự cứng rắn tiếp liền theo đó (“băng”, và hào từ chỉ ra sự tiếp nối của quá trình mà nó dẫn dắt, từ bình diện logic và do vậy, mang tính tất yếu, của giai đoạn khởi đầu – và kết quả nhỏ nhẹ – từ sự khởi đầu hết sức hiển nhiên. Như vậy bài học cần thiết cần cho cả bình diện lịch sử: hình thái mang tính ấn tượng của sự kiện chỉ là kết quả của sự phát triển ngấm ngầm liên tục, và nhanh chóng người ta biết cách đánh dấu nó và phù hợp hơn nữa, người ta sẽ hành động trên tiến trình vận hành của sự vật.

Tại đỉnh điểm được tạo thành, ngay trong lòng của quẻ thứ nhất, hào ngũ đáp ứng, từ bình diện cân đối nhưng trái ngược hào nhị, đỉnh điểm được tạo thành cũng từ trong lòng của quẻ này. Cũng là tình trạng tập trung và cân bằng ngay từ trong các quẻ đơn tương ứng; tại đó, Vương Phu Chi nói, khả năng của dương chạm tới Thiên, vị thế tối cao, nhưng nó không thể vượt quá vị thế này (tương tự như hào lục); ở đây, khả năng của âm nhô lên trên mặt đất – giai đoạn nở hoa kết quả – mà không phản ánh sự cạn kiệt. Như vậy các nét đặc trưng của hào này hoàn toàn mang tính khẳng định: “thẳng thắn – vuông vắn – rộng lớn”. Tính chất biểu trưng là đơn giản: khả năng riêng biệt đối với đất được giữ đúng và ổn định (tập trung – không xê dịch), và cái xác định “sự hữu thể riêng” là “rộng lớn”. Nhưng đặc biệt đây là giai đoạn phản ánh bình diện bản chất, mở ra sự phong phú của nó. Lúc ấy Hào từ là: Trục phương đại bất tập vô bất lợi – (Đức cảu mình) thẳng, vuông lớn thì chẳng phải học tập mà cũng chẳng có gì là không lợi. Bởi vậy, sự trưởng thành của con người và thực vật, là nhờ có đất, nhà bình giải nói với chúng ta (trước Vương Phu Chi, Vương Bật ở thế kỷ III, người đầu tiên nhận biết ý nghĩa triết học của quá trình tự nhiên này), nếu đây không phải là quá trình tự phát triển “hoàn toàn đơn lập” và “tự thân”, không phải là “sự áp dụng” cũng không phải là “nỗ lực”, thì phải chăng ở đây là kết quả đưa đến là hoàn toàn tự ý?

Hào nhị là sự toàn vẹn và tỏa sáng. Trong sự kéo dài của nó, hào tam trình bày tương tự một sự phản ánh ngẫu nhiên như là sự khởi đầu hợp lý của các phẩm chất cõ chỗ của chúng ở đây. Tại đây, hào từ được đưa ra ngay sau khi tiếp nối những điều quanh co của ý nghĩa: “Hàm chương khả trinh, hoặc tông vương sự, vô thành hữu chung: ngậm đừng để (lộ ra) đức tốt mà giữ vững được, có khi theo người trên mà làm việc nước, đừng chiếm lấy sự thành công thì sau cùng sẽ có kết quả”. Sự tỏa rạng bên trong là rất vững chắc của hào nhị: đây là hào cho phép ngay tại thời điểm kết thúc (là hào của quẻ đơn thứ nhất), và bất chấp vị trí không thuận lợi (hào âm nằm ở vị trí hào dương), mà người ta có thể giữ được “tính chất toàn vẹn” của nó. Phần nhô lên, đặc trưng của hào tam, được chuyển đổi ở đây bằng môtíp gia nhập phục vụ cho vua: điều này làm rạng rỡ đức của âm, vốn ở nguyên vị thế gần như nó, hé lộ ra sự hiện diện của dương (Vua) và hợp tác theo sự điều khiển của vua. Nó không phải đạt tới kiểu thức như “nó có thể là”, được đưa vào bằng môtíp này, môtíp tự nó khó có thể phân tích một cách cẩn thận: tình huống có thể xảy ra này có nghĩa là một kiểu nhập cuộc như vậy không nhất thiết phải phù hợp với cái mà sự tỏa sáng bên trong vận dụng và nó khi đó tuân thủ mọi sự bó buộc của thời điểm; tuy vậy, sau khi đã gia nhập, nó sẽ đi đến tận cùng (giống như việc thỏa thuận cho đến cùng với quẻ đơn thứ nhất này và rồi lại trở về Địa với chức năng dẫn dắt sự tồn tại thực hiện sứ mệnh của nó). Nhưng không nhận các công trạng từ sự thực hiện này như nó cần phải vậy, chúng trở thành dương.

Trái lại, hào tứ là hào của sự giật lùi: nó được tìm ra trong một “cái túi” nơi nó bị giam và trói buộc. Lời hào từ là “không nhục không vinh”. Nếu môtíp về sự khép kín này và vễ chỗ uẩn khúc của nó được mở ra dưới đất (nói đúng từng chữ là: ở dưới hào nhị vốn là hào biểu trưng cho mặt đất) và từ cách thức của tiến trình tích lũy mà ngay sau khi nó đã nhập cuộc, nó là không thể tránh được và do đó bị đe dọa, trong trường hợp hào này thích ứng với bình diện hoạt động của con người, nó đề cập tới một nếp cuộn ý thức và tự giác mà chỉ có sự chủ tâm mới đảm bảo được sự an toàn của ta. Hào này cho ta hiểu các nho sĩ Trung Hoa vào thời kỳ hỗn loạn đã lựa chọn sự ẩn dật để thoát khỏi bạo quyền và giữ được cái đầu của mình. Vương Phu Chi đưa ra một sự bình giải sáng sủa: trong các thời kỳ bị áp chế, “những lời nói nguy hiểm” (cần hiểu là: những lời phát ngôn mà nếu người ta nói ra những gì người ta nghĩ, thì dẫn tới gây hiểu lầm cho chính thể) “gây nên bất hạnh cho chúng ta”; và, ngược lại, “những lời nói giả vờ” (mở rộng ra là ở đó người ta che đậy quan điểm của mình để khỏi bị mất lòng) “ngược lại với chính Đạo” (trái với các yêu cầu về đạo đức). Nhưng, “Quát năng, vô cữu, vô dự – Như cái túi thắt miệng lại (kín đáo giữ gìn) thì khỏi tội lỗi và cũng không danh dự”, khi đó những cái khác không thể nhận thức thấu triệt được; và “đó là một đỉnh cao của sự thận trọng”. “Thắt miệng lại”, thoát ra khỏi bằng cách im lặng trước những lời than vãn của hoàng thân và lũ cận thần của ông ta, hoặc táo bạo hơn là tố giác các đồng sự của mình, khi đó là cách thức bảo toàn”tính toàn vẹn”, với nghĩa thứ hai của cách nói này, đồng thời trên cả bình diện thể xác lẫn bình diện đạo đức: tôi tưởng tượng rằng các trí thức Trung Hoa cần phải suy tư rất nhiều, hôm nay cũng như hôm qua, về sự đúng đắn của vị thế này…

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: François Jullien – Các biểu tượng của nội giới hay cách đọc triết học về kinh dịch – NXB ĐN 2007.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s