4/ Chủ nghĩa song phương, đa phương và ảnh hưởng của nó tới AEC

Việc Trung Quốc đơn phương tuyên bố vùng biển nằm trong đường lưỡi bò chín đoạn (dựa vào đường 11 đoạn tuyên bố năm 1953 bỏ đi 2 đoạn) làm cho tình hình an ninh kinh tế, chính trị và quân sự trở nên phức tạp. Trước áp lực đó, gần đây nhất không gian Đông Á đã mở rộng hơn thông qua Hội nghị Thượng đỉnh An ninh Đông Á (EAS) khai mạc lần đầu vào tháng 12 năm 2005. Mặc dù Đông Nam Á đã được “thể chế hóa” từ khi ASEAN ra đời năm 1967, nhưng không có sự tham gia nào của Đông Bắc Á cho tới khi ASEAN + 3 (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) được hình thành nhờ sáng kiến của ASEAN năm 1997. EAS là một đề xuất của Malaysia với sự chống lưng rất lớn từ Trung Quốc. Ý định của Kuala Lumpur là cho EAS phát triển giống ASEAN + 3, nhưng chuyển từ chương trình nghị sự tập trung vào kinh tế dần dần sang xem xét cả các vấn đề “an ninh, dân chủ, quản trị tốt, nền pháp quyền, và các khía cạnh của an ninh con người”. Cả Malaysia và Trung Quốc dự kiến EAS sẽ độc lập với Mỹ, một diễn đàn chỉ gồm các nước Đông Á. Tuy nhiên, các thành viên ASEAN khác cùng với Nhật Bản lo ngại khả năng thống trị của Trung Quốc, yêu cầu mời Australia, New Zealand và Ấn Độ tham gia – kết quả là EAS bao gồm một số bạn bè và đồng minh của Mỹ mặc dù không có mặt của Washington.

ASEAN cũng nhấn mạnh rằng chỉ các thành viên của nó mới có thể chủ trì các hội nghị thượng đỉnh hàng năm. Vì vậy, cũng như các cuộc họp ASEAN + 3 và ARF, ASEAN sẽ ngồi ở vị trí chủ trì. ASEAN đã áp đặt ba điều kiện cho việc tham gia EAS: đã có vị thế đối tác đối thoại, và có mối quan hệ “đáng kể” với ASEAN. Nga đã ứng cử và EAS với sự hỗ trợ mãnh mẽ từ Malaysia, Trung Quốc và Philippines mặc dù có sự dè dặt từ Singapore, Indonesia và Nhật Bản.

Sự im lặng của Mỹ đối với EAS dựa trên thái độ hoài nghi về sự gia tăng các hoạt động đa phương ở châu Á và không mấy tin rằng APEC và ARF sẽ là các tổ chức dẫn đầu châu Á – Thái Bình Dương về kinh tế và an ninh. Mỹ thường thấy mô hình chủ nghĩa đa phương châu Á quá quan tâm đến tính đồng thuận, và vì vậy định hướng này khiến hợp tác khu vực tiến triển quá chậm để có thể giải quyết những thách thức về an ninh, kinh tế, chính trị cấp bách ở châu Á (Sheldon, 2006).

Trong bối cảnh Trung Quốc lớn mạnh đang gây áp lực với các nước ASEAN, hội nghị cấp cao của ASEAN tại Campuchia năm 2012 không đạt được đồng thuận quy tắc ứng xử về Biển Đông. Trong khi Việt Nam và Philippines phản đối Trung Quốc thì Malaysia, Lào, Campuchia và Brunei không tỏ thái độ ủng hộ quy tắc ứng xử về Biển Đông. Lý do chính là Malaysia, Brunei không có vùng biển tranh chấp với Trung Quốc còn Lào và Campuchia cần được hưởng ưu đãi vốn đầu tư của Trung Quốc và mở rộng các lĩnh vực hợp tác với nước này. Do đó vai trò của ASEAN mờ nhạt trước ý đồ chia rẽ của Trung Quốc. Đặc biệt Trung Quốc tận dụng khá hiệu quả quan hệ hợp tác ASEAN + 3. Hậu quả là hợp tác thương mại trong nội bộ ASEAN không tăng đáng kể nhưng với các đối tác khác như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc… lại tăng. Hợp tác đa phương trong ASEAN đang bị chi phối bởi các hiệp định song phương giữa các thành viên ASEAN với các đối tác khác theo mục tiêu lợi ích riêng. Có thể xem các bảng số liệu sau để thấy diễn biến tình hình hợp tác thương mại của các thành viên ASEAN.

20170106-182517_p0

Bảng 8 – 1 cho thấy xuất nhập khẩu trong nội bộ khối ASEAN thấp hơn nhiều so với ngoài khối. Xuất khẩu năm 2011 của Singapore trong khối là 127,54 tỷ USD chiếm 31,2% nhưng ngoài khối là 281,89 tỷ USD chiếm 68,8% tổng giá trị xuất khẩu. Tương tự các số liệu xuất khẩu của Thái Lan trong nội khối là 22 tỷ USD chiếm 31,6% và ngoài khối là 156,59 tỷ USD chiếm 68,4%, của Malaysia là 56,05 tỷ USD; 24,6%; 172,13 tỷ USD; 75,4%. Những nước chậm phát triển hơn như Lào, Campuchia, Việt Nam, Myanmar đều có giá trị xuất khẩu trong nội khối ASEAN thấp, và hướng tới các thị trường lớn trên thế giới. Giá trị xuất khẩu ra thị trường bên ngoài khối chiếm tỷ lệ cao, ví dụ của Việt Nam là 85,8% của Campuchia là 87% và của Myanmar là 75,4%. Xuất khẩu nội bộ thị trường ASEAN giảm do hàng rào thuế quan cao của những nước mới gia nhập ASEAN gây cản trở khi các nước phát triển hơn tiếp cận thị trường các nước kém phát triển này. Mặt khác, dung lượng thị trường của các nước ASEAN lại quá nhỏ bé so với Trung Quốc, Mỹ và EU, cho nên hàng hóa chế tạo của các nước ASEAN phải hướng tới thị trường lớn. Ngược lại, hàng hóa của các nước kém phát triển trong ASEAN mẫu mã đơn giản khó cạnh tranh với hàng hóa của các nước có trình độ phát triển cao hơn như Singapore, Malaysia, Indonesia nên mặt hàng chủ lực mà những nước kém phát triển xuất khẩu ra thị trường bên ngoài chỉ là nguyên liệu thô, hàng dệt may, giày dép, nông sản và thủy sản. Tóm lại, thương mại nội khối ASEAN chỉ chiếm khoảng 25% còn thị trường bên ngoài chiếm 75%. Dường như chủ nghĩa song phương đang lấn át chủ nghĩa đa phương trong trường hợp ở khu vực ASEAN.

20170106-182517_p1

20170106-182517_p2

Các số liệu trong bảng 8 – 2 chứng minh nhận định rằng các thành viên ASEAN tích cực hướng tới thị trường bên ngoài. Các đối tác chủ yếu là Trung Quốc, EU, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc. Trong số đó Trung Quốc trở thành đối tác chính vượt qua EU và Mỹ về tổng giá trị thương mại hai chiều. Một số quốc gia từng là đối tác thương mại truyền thống của Mỹ như Thái Lan, Malaysia, Singapore cũng quay sang đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc. Khi nền kinh tế Trung Quốc càng lớn mạnh, với tỷ lệ tăng trưởng đạt mức cao thì xu hướng này sẽ vẫn còn tiếp diễn. Việt Nam, Lào, Campuchia là ba nước phụ thuộc nhiều hơn vào thị trường Trung Quốc.

ASEAN và AEC với tư cách là hợp tác kinh tế và an ninh kinh tế. Hợn tác được xây dựng để tăng lợi ích chung và đối phó với các thách thức chung rõ ràng không phải là các biện pháp phòng thủ hay thiết lập các liên minh để chống lại sự bành trướng của Trung Quốc. Hơn nữa, chúng đã không được thành lập để chống lại các mối đe dọa cụ thể, mà để đạt được nhiều thỏa thuận phòng thủ hợp tác kinh tế riêng biệt của một số thành viên với các thế lực bên ngoài và tìm cách ứng xử để tránh xung đột. Một mục đích chính của việc tăng cường đoàn kết ASEAN là để hạn chế tham vọng bá quyền của Trung Quốc, nước láng giềng. Tuy nhiên, an ninh hợp tác thành công vẫn phụ thuộc vào khả năng tiếp cận với một cường quốc đối trọng bên ngoài mà chính sách của cường quốc đó phải phù hợp với chính sách an ninh hợp tác của tổ chức này. Trong trường hợp của ASEAN, đây chính là Mỹ. Sự hiện diện quân sự của Washington ở châu Á hỗ trợ mục tiêu của chính ASEAN, đảm bảo rằng không có bá quyền nào phát sinh, một cách hạn chế tham vọng chính trị của Trung Quốc. Không gian hợp tác của ASEAN có thể mở rộng hơn khi có sự tham gia của Nga, Ấn Độ. Khi an ninh Đông Á bị đe dọa, sự liên kết giữa Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc đối phó với Trung Quốc đang góp phần làm cho FDI của Nhật Bản, Mỹ tại Trung Quốc giảm và tăng nhanh tại ASEAN.

Kết luận

Vị trí và vai trò của ASEAN trong khu vực những năm tới phụ thuộc rất nhiều vào sự phục hồi kinh tế một cách bền vững của ASEAN và khả năng cạnh tranh của ASEAN ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương cả về chính trị, kinh tế, thương mại và công nghệ. Đẩy nhanh việc thực hiện AFTA, triển khai thực hiện HIệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN (AIA) và chương trình hợp tác công nghiệp ASEAN (AICO)… nhằm tăng cường và củng cố hơn nữa hợp tác kinh tế ASEAN, để AEC trở thành thực thể giúp nâng cao vị trí của ASEAN trong APEC và trong WTO, là những ưu tiên trước mắt và lâu dài của ASEAN. Tuy nhiên điều đó cũng có nghĩa là ASEAN cần phải đầu tư thích đáng hơn nữa vào phát triển, đặc biệt là công nghệ thông tin, và phát triển nguồn nhân lực trong điều kiện “thế giới đang bắt đầu quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức”, và “khoảng cách giữa các nước chính là khoảng cách về tri thức”. Đây là thách thức lớn cho khả năng cạnh tranh và vai trò của ASEAN trong khu vực và trên trường quốc tế do khoa học và công nghệ của ASEAN còn yếu kém. Ngoài những thách thức trên, khá nhiều học giả, nhà nghiên cứu và phân tích về khu vực Đông Nam Á cho rằng đối với các vấn đề an ninh mà Đông Nam Á đang phải đối phó hiện nay với sức mạnh của Trung Quốc không ngừng tăng lên, thì thách thức trong thế kỷ XXI chính là sự phát triển các thể chế hoặc cơ chế khu vực để giải quyết các vấn đề an ninh đó. Như vậy, khả năng của ASEAN tiếp tục đóng vai trò chủ đạo và kiểm soát được những bước đi tiếp theo trong tiến trình phát triển sẽ rất quan trọng vào năm 2015 tiến đến AEC, các vấn đề an ninh của khu vực. Tuy nhiên cũng chính điều này đang là thách thức lớn đối với khả năng của ASEAN. Hợp tác đa phương, hợp tác song phương, khu vực không mâu thuẫn nhau, cần phải thực hiện một cách hài hòa tùy vào tình hình khu vực và quốc tế với mục tiêu lợi ích trước mắt và lâu dài. Mỹ và Trung Quốc đều quan tâm tới châu Á, để đảm bảo sự đồng thuận, các thành viên ASEAN không nên tập trung vào lợi ích trước mắt tránh tình trạng lúc ngả theo Trung Quốc, lúc ngả theo Mỹ giúp cho AEC nâng cao vị thế của mình.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyền Hồng Sơn & Nguyễn Anh Thu (đcb) – Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), bối cảnh và kinh nghiệm quốc tế – NXB ĐHQG HN 2015.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s