Iriye Akira

…….

Vì vậy chúng ta phải đưa ra những nhân tố khác ngoài nhân tố về an ninh. Tất nhiên, có một nhân tố, đó là buôn bán. Khoảng 20 năm nay, các vấn đề an ninh trong khu vực Thái Bình Dương đã trở thành vấn đề chung, thậm chí đôi khi còn ít được chú ý đến bởi những tranh chấp trong buôn bán giữa hai nước. Khác với vấn đề hạt nhân, trong vấn đề về buôn bán ít nhất người ta còn có thể bàn bạc về một sự cộng tác bình đẳng hơn – hoặc về sự xung đột nghiêm trọng hơn. Người ta có thể bàn luận về sự tăng trưởng các hoạt động buôn bán và đầu tư xuyên Thái Bình dương, về tính tương đối mở cửa thị trường hai nước cho hàng hóa của nhau, về những tỷ lệ tích lũy khác nhau của hai dân tộc, và về sự tăng giá ổn định của đồng Yen so với đồng USD… Rõ ràng, đây là những vấn đề mà ở đó người ta tương đối dễ xác định được những điểm nhất trí và những điểm bất đồng giữa hai quốc gia. Nhưng sự nhất trí bất đồng ấy phải làm gì với những khó khăn của hai dân tộc trong việc phát triển một quan điểm chung về cuộc chiến tranh và hậu quả của nó?

Những điều đã nói ở trên đưa ra một cách trả lời, đó là việc các vấn đề an ninh có xu hướng lấn át mọi vấn đề khác với tư cách như là khuôn khổ bao trùm lên tất cả trong việc xem xét mối quan hệ song phương này. Vì thế, nên cả Mỹ lẫn Nhật đều không triển khai được một khuôn khổ tri thức được cả hai bên chấp nhận cho việc hiểu một cách đầy đủ những mối quan hệ thương mại của họ. Chắc chắn rằng đối với một số người Nhật, những thành công vào thời kỳ sau chiến tranh của họ trong lĩnh vực kinh tế là do vị trí quân sự thấp kém của họ, làm cho họ có thể dồn hết sinh lực của mình vào việc mở rộng buôn bán. Cũng bởi lý do đó một số người Mỹ xem hiện tượng này như sự trả lời của Nhật Bản cho thất bại quân sự của mình, còn người Nhật, về vấn đề này, họ đang cố gắng chinh phục thế giới bằng các biện pháp kinh tế hơn là bằng các biện pháp quân sự. Tuy nhiên, những điều giải thích chung chung như vậy không có ích lắm, vì chúng chỉ đề cập đến các hiện tượng bề ngoài chứ không trả lời câu hỏi tại sao Nhật lại thành công trong lĩnh vực kinh tế hơn là trong lĩnh vực quân sự, hoặc tại sao các tham vọng của Nhật, cho đến nay trong bất cứ trường hợp nào, cũng dường như được gắn liền với các mục tiêu kinh tế. Ngoài ra, những hiện tượng này lại được xem xét một cách riêng rẽ, như các vấn đề trong quan hệ Nhật – Mỹ, trong khi chúng ta có thể đã nằm trong những sự phát triển toàn cầu kể từ sau cuộc chiến tranh.

Vậy thì một cách để hiểu được vấn đề mậu dịch là phải phát triển một khung khái niệm mới cho việc hiểu được lịch sử thế giới sau chiến tranh mà trong lịch sử đó có thể có vấn đề mậu dịch. Ở đây người Nhật, người Mỹ và những người khác một lần nữa lại phải hợp tác về tri thức khoa học. Mặc dù không đưa ra trước những hậu quả của sự hợp tác mà có thể sẽ diễn ra, nhưng tôi có thể gợi ý rằng nên lấy đề tài về văn hóa làm trọng tâm để hiểu lịch sử của 50 năm qua. Tất nhiên, các hoạt động văn hóa đã có trong mọi thời đại và ở mọi quốc gia, nhưng chúng có ý nghĩa đặc biệt to lớn trong việc xác định lịch sử đương thời. Và lấy văn hóa làm đề tài chính sẽ góp phần to lớn vào việc xóa đi nỗi ám ảnh về vũ khí hạt nhân và về địa chính trị, nỗi ám ảnh có mặt trong hầu hết các tài liệu sách báo. Theo một định nghĩa nào đó, lịch sử thế giới kể từ năm 1945 có thể được hiểu là một   lịch sử trong đó các lực lượng văn hóa đang ngày càng có được tầm quan trọng và vì thế một định nghĩa mang tính địa chiến lược về các quan hệ quốc tế trở nên ngày càng không thích đáng.

Trước hết, chúng ta thấy rằng cuộc chiến tranh lạnh có một khía cạnh văn hóa, nó đem hệ tư tưởng dân chủ đọ sức với hệ tư tưởng Xôviết. Ngay từ đầu sự việc đã trở nên rõ ràng rằng hệ tư tưởng dân chủ là hệ tư tưởng có ảnh hưởng mạnh hơn. Mặc dù về mặt quân sự, sự cân bằng hạt nhân đã có được giữa hai phe, nhưng về mặt tư tưởng thì thật sự là không có tranh chấp. Chính điều này đã giúp người ta tìm ra một khía cạnh quan trọng trong các mối quan hệ Nhật – Mỹ sau chiến tranh. Mặc dù Nhật Bản không có vũ khí hạt nhân và đóng góp rất ít cho sự cân bằng quân sự toàn cầu, nhưng nó đã gắn bó hệ tư tưởng và sự phát triển văn hóa của mình với hệ tư tưởng và sự phát triển văn hóa của Mỹ và Tây Âu. Nhật đã trở thành một nước “phương Tây”. Nó là nước theo phương Tây hơn hầu hết các nước phi phương Tây khác vì sự ảnh hưởng quá mạnh của Mỹ qua việc chiếm đóng và qua những quan hệ buôn bán chặt chẽ giữa hai nước.

Thế nhưng, khác với Tây Đức, nước có được sự che chở và phục hồi sau chiến tranh là nhờ gắn hoàn toàn vận mệnh của mình vào một liên minh phương Tây (Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương, hay NATO), định hướng theo phương Tây của Nhật chỉ giới hạn trong Hiệp ước An ninh với Mỹ. Nhật Bản không phải là một thành viên của NATO hoặc của bất kỳ một tổ chức hợp tác phòng thủ nào khác. Thay vào đó, Nhật phát triển các mối quan hệ chặt chẽ, ban đầu là về kinh tế nhưng sua đó là gồm cả các quan hệ chính trị và văn hóa, với các nước châu Á láng giềng của mình. Bắt đầu vào những năm 1970, Nhật Bản và các nước châu Á khác đi đến chỗ đạt kỷ lục về sự tăng trưởng kinh tế rất gây ấn tượng và vì thế, khác với Tây Đức, nơi mà các chính sách an ninh phù hợp với các chính sách thương mại, Nhật phát triển một định hướng ngày càng hướng tới châu Á trong các vấn đề thương mại trong khi đó vẫn tiếp tục phụ thuộc vào Mỹ về các vấn đề an ninh và văn hóa.

Sự tăng trưởng của các nền kinh tế châu Á là một trong những phát triển nổi bật nhất gần đây, nhất định phải là một bộ phận cấu thành của lịch sử thế giới đương thời. Các quan hệ Nhật – Mỹ cũng cần được hiểu trong bối cảnh này. Nói cách khác, Nhật Bản sau chiến tranh là một bộ phận không thể phủ nhận được của hiện tượng Tây hóa hoặc Mỹ hóa về văn hóa trên khắp toàn cầu, nhưng nó cũng có vai trò trong việc làm tăng sức mạnh kinh tế của châu Á, nghĩa là của khu vực phi phương Tây của thế giới. Lịch sử của 50 năm qua bao gồm hai chủ đề đối lập nhau, đó là: ảnh hưởng quá mạnh của văn hóa phương Tây, đặc biệt là văn hóa Mỹ, và sự hình thành một khu vực phi phương Tây với tư cách là một nhân vật quan trọng trong các sự kiện của thế giới. Lịch sử của Nhật Bản sau chiến tranh là một bộ phận của cả hai hiện tượng trên.

III

Ở phần đầu của bài này tôi đã đề cập những khó khăn trong việc hiểu rõ sự tiến triển của các quan hệ Nhật – Mỹ trong vấn đề sau chiến tranh. Thế nhưng, bằng cách đưa ra những nhân tố văn hóa, chúng ta có thể sẽ bắt đầu đối phó được với những khó khăn đó. Vì một điều rất rõ rằng về cơ bản, lịch sử gần đây của mối quan hệ song phương này một mặt là bộ phận của hiện tượng Tây hóa (Mỹ hóa) mang tính toàn cầu và mặt khác là bộ phận của sự thách thức của khu vực phi phương Tây. Hiện tượng sau, về mặt khái niệm, có thể hiểu là sự gia tăng của chủ nghĩa đa văn hóa, nghĩa là sự tự ý thức và tự khẳng định của các nền văn hóa và dân tộc của các nước phi phương Tây.

Đánh giá theo cách này thì ngay cả cuộc chiến tranh Thái Bình Dương cũng có thể hiểu được rõ hơn: Nhật đã gây ra cuộc chiến tranh này để thách thức ảnh hưởng văn hóa của Mỹ và của châu Âu và để ủng hộ mạnh mẽ các cuộc vận động chống phương Tây, mà Nhật giữ vai trò là người phát ngôn. Trong quá trình đó, Nhật tiến hành cuộc chiến tranh không chỉ chống lại phương Tây mà còn chống lại cả châu Á, vì nhân dân châu Á muốn chủ nghĩa đa văn hóa chứ không muốn sự thống trị của Nhật. Sau thất bại của mình, Nhật đi đến chỗ ủng hộ các thế lực phương Tây đã chiến thắng vì có liên quan đến chính sách an ninh và định hướng văn hóa của nó, nhưng sự khôi phục và mở rộng kinh tế của Nhật đã mở ra một trật tự khu vực ở châu Á, tạo thành một bộ phận của thế giới đa văn hóa đang hình thành. Trong khi đó, Mỹ hoan nghênh sự thay đổi của Nhật, nhưng chưa bao giờ vững tin sẽ phải phản ứng như thế nào đối với chủ nghĩa đa văn hóa, như tâm trạng vỡ mộng về cuộc Chiến tranh Việt Nam đã cho thấy. Cho đến nay, Mỹ dường như vẫn duy trì một thái độ nước đôi đối với sự nổi lên của khu vực phi phương Tây, và đây là một trong những nguyên nhân tại sao thái độ của Mỹ đối với Nhật lại hay thay đổi đến vậy.

Thật khá thú vị là Mỹ ngày càng trở thành một nước đa văn hóa. Nhờ những điều luật về dân quyền và việc sửa đổi lại vấn đề nhập cư của những năm 1960, các dân tộc thiểu số ở đất nước này đã tăng về số lượng và về sự khẳng định vị trí của mình. Cho dù chúng ta có thích sự đa dạng ngày càng tăng của nước Mỹ hay không, thì thực tế trên cũng không thể phủ nhận được. Và điều này làm cho Mỹ có thêm khả năng, ít nhất là về mặt tiềm năng, đương đầu được với một thế giới đa văn hóa hơn so với gần như bất kỳ quốc gia nào khác. Chắc chắn rằng về mặt này, Mỹ đi trước Nhật một khoảng cách rất xa. Khoảng cách này là một khía cạnh nữa của tình trạng không chắc chắn hiện nay trong quan hệ Nhật – Mỹ, vì Mỹ đang thay đổi rất nhanh, phản ánh những điều kiện toàn cầu, trong khi đó nhịp độ thay đổi của Nhật là rất chậm, nhất là về cơ cấu dân tộc của nó.

Vậy thì tương lai của quan hệ Nhật – Mỹ sẽ phụ thuộc rất nhiều vào cách hai dân tộc này sẽ phản ứng như thế nào trước hai điều thách thức của thế giới đương thời: đó là sự tiếp tục Tây hóa (Mỹ hóa) và chủ nghĩa đa văn hóa ngày càng tăng. Nhưng hai dân tộc này như được đề cập ở trên, kéo người ta trở về với chiến tranh. Nhưng hai dân tộc này đều cần phải thống nhất về cả hai vấn đề trên. Họ có thể hợp tác trong việc phổ biến các giá trị và lợi ích của nền văn minh phương Tây (quyền con người, vấn đề môi trường, nghệ thuật và văn học) trong khi đó vừa góp phần vào việc tạo ra một cộng đồng quốc tế ổn định được xây dựng trên sự đa dạng văn hóa. Để thực hiện sự hợp tác ấy, Nhật sẽ phải thay đổi nhiều hơn so với Mỹ, vì Mỹ đã là một điển hình cả về các giá trị phổ biến lẫn các quan điểm đa văn hóa. Nhật Bản, nước rất chậm trong việc tán thành các giá trị nói trên và trong việc thực hiện đa dạng hóa về chủng tộc và văn hóa, phải học Mỹ nhiều về mặt này. Chỉ khi nào Nhật gắn bó chặt chẽ hơn nữa với những khuynh hướng toàn cầu đang ngày càng trở nên rõ rệt kể từ Thế chiến II đến giờ thì nó mới sẵn sàng bồi thường cho cuộc chiến tranh mà vô tình đã đẩy nhanh những xu hướng ấy.

Quan hệ Nhật – Mỹ không hề dị thường hơn so với bất kỳ một quan hệ song phương nào khác. Sẽ là sai lầm nếu tách riêng quan hệ này ra và hiểu sự phát triển sau chiến tranh của nó chỉ trong khuôn khổ của Thế chiến II, của việc Mỹ chiếm đóng và của liên minh quân sự, hoặc của những xích mích trong buôn bán. Nhật và Mỹ là những bộ phận hợp thành của lịch sử thế giới đương thời, mà để tạo nên lịch sử đó hai nước này đã đóng góp ở những mức độ và hình thức khác nhau. Người Nhật và người Mỹ sẽ có khả năng thực hiện sự hợp tác đầy ý nghĩa chỉ khi họ có chung một nhận thức về các lực lượng hình thành nên thế giới ngày nay. Những lực lượng này về cơ bàn là mang một bản chất văn hóa. Vì vậy các nhà khoa học, các nhà giáo dục và nhiều người khác nữa trong cả hai nước phải thật sự nỗ lực để cùng tiến hành nghiên cứu về quá khứ mới đây. Chỉ những nỗ lực như vậy, chứ không phải các cuộc đàm phán về an ninh hoặc mậu dịch, mới đảm bảo được một quan hệ ổn định xuyên Thái Bình Dương.

Người dịch: Trần Thị Hoàng Hoa

Hiệu đính: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: Iriye Akira, Understanding Japan – US Relations, 1945 – 1995 – “Japan Quartely”, July – September, 1995, p256 – 264.

TĐB 96 – 08

Iriye Akira, là giáo sư sử học tại Trường Đại học Harvard. Ông là tác giả cuốn Văn hóa quyền lực: Chiến tranh Nhật – Mỹ 1941 – 1945 (1981), Nguồn gốc của cuộc Chiến tranh Thế giới thứ II ở châu Á và Thái Bình Dương (1987), và cuốn Quá trình toàn cầu hóa của Mỹ, 1913 – 1945 (1993).

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s