Ở Nam Phi, một số nhà quan sát (kể cả tôi) tin rằng khu vực bất động sản ngoài pháp luật đang sắp ở giai đoạn bành trướng lớn thứ hai. Năm 1998, tờ Newsweek tường thuật rằng “ngày càng có nhiều [người da đen Nam Phi] ở trong các trại lấn chiếm và các khu phố ổ chuột bao quanh mọi thành phố của Nam Phi. Dưới chế độ phân biệt chủng tộc, các luật chủng tộc đã cầm giữ nhiều người da đen ở các vùng thôn quê. Giờ đây họ di chuyển tự do – nhưng không thoải mái gì”. Tờ Economist xác nhận xu hướng: “Mặc dù bạo lực chính trị chống người da trắng chưa bao giờ là đáng kể, sự chấm dứt phân biệt chủng tộc đã làm cho việc những người da đen lang thang vào các khu vực da trắng giàu có dễ dàng hơn”.

Ở Ai Cập, các nhà trí thức và kỹ trị dường như đã ý thức được vấn đề một thời gian. Theo một báo cáo mới, giữa năm 1947 và năm 1989 “dân số đô thị của Ai Cập đã… tăng… từ 6,2 triệu lên 23,46 triệu người”. Các số liệu do Gerard Barthelemy thu thập cho thấy dân số của vùng đô thị Port-au-Prince, Haiti đã tăng từ 140.000 người năm 1950 lên 1.550.000 người năm 1988 và hiện nay lên đến gần 2 triệu người. Barthelemy ước lượng rằng khoảng hai phần ba những người này sống trong các khu ổ chuột, hoặc trong cái mà những người Haiti gọi là bidonville.

Ở Mexico, khu vực tư nhân ngày càng ý thức được về hiện tượng ngoài pháp luật và tham gia tích cực vào việc làm gì đó với nó. Theo một tường thuât báo chí:

Một nghiên cứu năm 1987 của Trung tâm Nghiên cứu kinh tế khu vực tư nhân (CPSES: Center for Private Sector Economic Studies) đã ước lượng rằng, khu vực không chính thức ngoài pháp luật đã tạo ra hoạt động kinh tế có giá trị từ 28% đến 39% GDP chính thức của Mexico. Một nghiên cứu năm 1993… đưa ra số người trong “khu vực phi chính thức không có đăng ký” là 8 triệu trong tổng lực lượng lao động 23 triệu… Antonio Montel Guerrero, Chủ tịch Phòng Thương mại các doanh nghiệp nhỏ của Mexico City (CACOPE), một tổ chức đại diện cho 167.000 doanh nghiệp nhỏ có đăng ký, nói: “Cứ mỗi doanh nghiệp chính thức thì có hai doanh nghiệp không chính thức”. “Trong quận Liên bang (Mexico City) có khoảng 350.000 doanh nghiệp nhỏ, phi chính thức với tổng dân số là 8 triệu người”. Mọi người đều đoán được cái gì tạo ra con số 20 triệu dân thành thị Mexico City, đặc biệt khi các khu ổ chuột không được điều tiết và ngày càng tăng lại tập trung chủ yếu ở ngoài trung tâm chính của thành phố.

Các vùng ngoài pháp luật ở các nước đang phát triển được đặc trưng bởi những nhà ở khiêm tốn, chật chội, chen chúc nhau ở ngoại vi thành phố, vô số các cửa hàng ở giữa chúng, hàng đoàn những người bán hàng rong trên đường, và các tuyến minibus đan chéo nhau dọc ngang không đếm xuể. Tất cả dường như đã bung ra không biết từ đâu. Dòng chảy đều đặn các thợ thủ công nhỏ, với dụng cụ trên tay, đã mở rộng phạm vi các hoạt động ở thành phố. Sự thích ứng địa phương làm tăng sản xuất các mặt hàng và dịch vụ thiết yếu, làm thay đổi một cách đầy kịch tính các lĩnh vực nhất định của chế tác, bán lẻ, xây dựng và giao thông. Khung cảnh thụ động một thời bao quanh các thành phố thế giới thứ ba đã trở thành những khu mở rộng mới nhất của các thủ đô và các thành phố theo kiểu châu Âu đã tạo ra một tính cách địa phương, ồn ào pha lẫn với sự bắt chước buồn tẻ của khu thương mại ngoại ô của Mỹ.

Độ rộng lớn của hầu hết các thành phố này tạo ra cơ hội riêng của nó. Các chủ doanh nghiệp mới nổi lên, những người không giống bậc tiền bối của họ, có xuất xứ rất tầm thường. Sự biến đổi nhanh theo huướng đi lên đã tăng. Các thói quen tiêu dùng và những xa hoa dành riêng cho xã hội đô thị cũ đã được thay theế bởi những thói quen khác phổ biến hơn.

Tiến vào các thành phố

Di cư, tất nhiên, là nhân tố mấu chốt trong tăng trưởng đô thị ở hầu hết các quốc gia đang phát triển và xã hội chủ nghĩa trước đây. Tuy vậy, những nguyên nhân của nó là rất khó tìm ra. Các nhà bình luận ở mỗi nước đưa ra những giải thích khác nhau: một cuộc chiến tranh, một chương trình cải cách nông nghiệp, thiếu cải cách nông nghiệp, một sự cấm vận của nước ngoài về buôn bán quốc tế, mở cửa buôn bán quốc tế, chủ nghĩa khủng bố và chiến tranh du kích, suy giảm đạo đức, thất bại của chủ nghĩa tư bản, thất bại của chủ nghĩa xã hội, thậm chí thị hiếu tồi (ở thôn quê thú vị hơn nhiều, vì sao họ không ở lại đó?).

Tuy vậy, gần đây ý kiến đã hội tụ xung quanh một vài nguyên nhân chung. Sự giải thích dễ thấy nhất cho làn sóng di cư ở khắp thế giới đang phát triển là đường sá đã tốt hơn. Việc xây dựng đường sá, cầu cống và cải tạo các đường đi không được kết nối thành các đường cao tốc đã đánh thức dân cư nông thôn về khả năng di chuyển, và họ bắt đầu chuyển về các thành phố. Các phương tiện truyền thông mới cung cấp những thông tin về thành phố đã khuyến khích thêm. Đặc biệt, đài phát thanh đã làm tăng hy vọng về tăng tiêu thụ và thu nhập. Từ xa hàng ngàn dặm, đài phát thanh công khai những cơ hội, những thú vui và những tiện nghi của cuộc sống đô thị. Sự hiện đại nghe ra trong tầm tay của bất kể ai có lòng dũng cảm lên đường theo đuổi nó.

Hiện nay cũng có ý kiến thống nhất rộng rãi rằng, các cuộc khủng hoảng nông nghiệp ở nhiều nước cũng là những nhân tố quyết định. Hiện đại hóa nông nghiệp và sự bất định của thị trường đối với một số cây trồng sau Chiến tranh thế giới thứ hai đã kích thích sự sa thải hàng loạt người làm ở các trang trại trên ruộng đất truyền thống và đã giải phóng một đội quân khổng lồ những người sửa soạn đi tìm chân trời mới.

Cũng đã có vấn đề quyền sở hữu ở nông thôn. Quá trình cải cách nông nghiệp kéo dài chỉ làm phức tạp – và cuối cùng làm trầm trọng thêm – những khó khăn kiếm đất phù hợp cho hoạt động trang tại. Không thể làm chủ được đất hoặc tìm việc làm ở thôn quê, nhiều người dân đã di cư ra các thành phố.

Một sức hấp dẫn mạnh mẽ nữa, ở hầu hết các thành phố tỷ lệ tử vong của trẻ em thấp. Khoảng cách giữa tỷ lệ tử vong của trẻ em ở thành phố và vùng thôn quê đã có sự chênh lệch do các dịch vụ y tế ở các thành phố được cải thiện sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Lương cao hơn cũng là một kích thích quan trọng. Ví dụ, ở Mỹ Latinh, vào năm 1970, những người bỏ thôn quê ra làm công việc có tay nghề bậc trung ở thủ đô có thể tăng 2 hay 3 lần thu nhập hàng tháng của họ. Một công nhân có thể được trả lương gấp 4 lần thu nhập trước của họ và các chuyên gia hay kỹ thuật viên có thể kiếm gấp 6 lần. Lương cao bù đắp cho rủi ro thất nghiệp: một người nhập cư, người đã bị thất nghiệp một năm trước đó, có thể bù đắp thiệt hai về thu nhập trong hai tháng rưỡi làm việc ở thành phố. Cuộc sống ở các thành phố xa xôi không chỉ có vẻ tốt hơn, mà là tốt hơn thật.

Thậm chí sự gia tăng của bộ máy quan liêu quốc gia cũng trở thành một sự khuyến khích di cư. Sự tập trung quyền lực vào tay các quan chức chính phủ có nghĩa rằng, hầu hết các cơ quan chính phủ có năng lực cung cấp lời khuyên, trả lời các yêu cầu, cấp giấy phép, hoặc cung cấp việc làm, đều có trụ sở ở các thành phố. Bất kể người di cư nào tìm kiếm một tương lai tươi sáng hơn cho con cái của mình đều biết rằng, các cơ hội giáo dục ở các thành phố là tốt hơn cả. Đối với những người nông dân bán thất nghiệp với ít nguồn lực khác ngoài tài khéo léo của riêng mình, thì giáo dục là một khoản đầu tư ngày càng có giá trị và hữu ích. Các thành phố chiếm hầu hết số học sinh tốt nghiệp trung học cũng như số học sinh được tuyển vào các trung tâm các trường đào tạo nghề và theo học các trường đại học.

Vì vậy, di cư không phải là một hành động phi lý. Nó không liên quan gì đến “bản năng bầy đàn” cả. Nó là sản phẩm của một sự đánh giá hợp lý, có tính toán của người dân thôn quê về tình trạng hiện tại của họ so với những cơ hội mở ra cho họ ở nơi khác. Bất luận đúng hay sai, họ tin rằng di cư vào các thị trường rộng lớn hơn sẽ có lợi hơn cho họ. Tuy vậy, đây không phải là một điều dễ thực hiện.

Người nghèo trở về nhà

Những người nhập cư vào thành phố gặp phải một thế giới thù địch. Họ mau chóng nhận ra rằng mặc dù dân đô thị đã có ý tưởng lãng mạn, thậm chí nhân hậu đối với những người nông dân và nhanh chóng thừa nhận tất cả mọi công dân có quyền mưu cầu hạnh phúc, nhưng họ thích những người nông dân tốt bụng tìm kiếm hạnh phúc của mình ở quê nhà hơn. Nông dân được cho là không nên đến để tìm kiếm sự hiện đại. Để đạt được mục tiêu ấy, hầu như tất cả các nước đang phát triển và xã hội chủ nghĩa trước đây đã kiên trì các chương trình phát triển hiện đại hóa nông thôn.

Sự gây cản trở lớn nhất đối với những người nhập cư là từ hệ thống pháp luật. Đầu tiên, hệ thống có thể tiếp nhận hoặc bỏ qua họ bởi vì các nhóm nhỏ đến không làm đảo lộn hiện trạng mấy. Tuy nhiên, khi số lượng của họ tăng lên đến một điểm mà không thể nào bỏ qua được họ, thì những người mới đến thấy mình bị ngăn trở khỏi các hoạt động kinh tế và xã hội được thiết lập một cách hợp pháp. Đối với họ, rất khó để tiếp cận nhà ở, tham gia hoặc lập doanh nghiệp chính thức, hoặc kiếm việc làm hợp pháp. Các thể chế pháp lý của hầu hết các nước thế giới thứ ba đã được phát triển qua nhiều năm để phục vụ nhu cầu và quyền lợi của các nhóm đô thị nhất định; việc giải quyết những người nông dân ở các vùng thôn quê là một vấn đề riêng biệt. Chừng nào những người nông dân vẫn ở nông thôn, thì sự phân biệt đối xử pháp lý ngầm định chưa lộ rõ. Tuy nhiên, một khi họ đã cư ngụ ở các thành phố, họ sẽ cảm nhận thấy chính sách phân biệt đối xử của pháp luật chính thức. Bỗng nhiên, lồng kính [Braudel] lộ ra trước mắt.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hernando de Soto – Bí ẩn của vốn – NXB CTQG 2016.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s