Không giống như vụ phóng vệ tinh đã thất bại của Triều Tiên hồi tháng 4/2012, Kwangmyongsong-3-2 là một sự thành công. Chính quyền Obama, ngay lập tức đã hứa hẹn rằng “sẽ có những hậu quả” về vụ phóng tên lửa của Triều Tiên. Cùng với Seoul và Tokyo, Washington đã coi vụ phóng tên lửa này, mà Bình Nhưỡng khăng khăng là một vệ tinh viễn thông, hoàn toàn là một sự trá hình để thử nghiệm một tên lửa tầm xa. Mặc dù Bắc Kinh, nước nắm quyền phủ quyết, đã thừa nhận rằng luật pháp quốc tế cho Triều Tiên quyền phóng một vệ tinh, Bắc Kinh cũng cho biết rằng các nghị quyết trước đây của UNSC đã ngăn cấm Bình Nhưỡng thực hiện hoạt động này. Trong một thời gian, có vẻ rằng UNSC sẽ không thể thông qua một nghị quyết trừng phạt Triều Tiên vì vụ phóng tên lửa hồi tháng 12 của nước này. Tuy nhiên, vào cuối tháng 1, UNSC đã thông qua Nghị quyết 2087, mà đã tiếp tục trừng phạt Triều Tiên. Bình Nhưỡng ngay lập tức bác bỏ nghị quyết của UNSC, mà Bình Nhưỡng nói rằng đó là kết quả của chính sách thù địch của Washington đối với Triều Tiên và “đã được vạch ra thông qua việc bàn bạc hậu trường với Mỹ là bên tham gia chính”. Bình Nhưỡng đã hứa hẹn rằng “một loạt vệ tinh và tên lửa tầm xa mà sẽ được Triều Tiên phóng lần lượt và một vụ thử hạt nhân ở mức độ cao hơn sẽ được Triều Tiên tiến hành trong hành động dốc toàn lực sắp tới”. Do vậy, thực hiện lời hứa của mình, Bình Nhưỡng đã thực hiện vụ thử hạt nhân lần 3 hồi tháng 2/2013, trong khi vẫn cho rằng họ “không có kế hoạch thực hiện một vụ thử nghiệm hạt nhân lần thứ 3 và thậm chí không cảm thấy cần thiết”.

Do vụ thử hạt nhân lần 3 của Triều Tiên, vào đầu tháng 3/2013, UNSC đã thông qua Nghị quyết 2094, mà đã tăng cường chế độ trừng phạt nhằm vào Triều Tiên. Bình Nhưỡng đã chỉ trích cái mà họ gọi là “các biện pháp trừng phạt tập thể do Mỹ dẫn đầu nhằm vào Triều Tiên” bắt nguồn từ vụ thử hạt nhân lần 3 của họ, tức là Nghị quyết 2094 của UNSC. Vẫn cho rằng nghị quyết này “là có cân nhắc”, Bắc Kinh lần này đã không thể hiện sự phản đối nào đối với Nghị quyết 2094, mặc dù Bắc Kinh quả thực đã kêu gọi nối lại các cuộc đàm phán 6 bên.

Liên quan đến quá khứ gần đây, hiện giờ mức độ đe dọa đã đạt đến đỉnh điểm của nó – đang bị đẩy lên ngày càng cao từ cả hai phía. Bất bình bởi nghị quyết mới đây nhất và các cuộc tập trận quân sự Đại Bàng Non và Giải pháp Then chốt do các lực lượng của Mỹ và Hàn Quốc tiến hành ở khu vực này, Bình Nhưỡng đã thông báo rằng hiệp định đình chiến mà đã chấm dứt cuộc Chiến tranh Triều Tiên hồi năm 1953 sẽ không còn hiệu lực một khi các cuộc tập trận quân sự chung “lên đến cao điểm vào ngày 11/3”. Cho rằng mục đích của các cuộc tập trận chung là để sẵn sàng cho một cuộc tấn công hạt nhân phủ đầu vào Triều Tiên, Bình Nhưỡng đã tuyên bố rằng sẽ “sử dụng quyền tấn công hạt nhân phủ đầu để tiêu diệt các thành trì của những kẻ xâm lược”.

Quả thực, trong tình thế này, nơi mà căng thẳng chính trị nhanh chóng tăng lên, có chút gì đó là đúng đối với câu châm ngôn rằng “cần có 2 người để nhạy điệu tango” (ám chỉ rằng nếu có một vấn đề liên quan đến hai người hay hai phe, thì cả hai bên cần phải hợp tác với nhau để giải quyết vấn đề). Thay vì cố gắng xoa dịu tình trạng này thông qua ngoại giao như được Mỹ trông đợi, Chính quyền Obama đã chọn cách làm trầm trọng vấn đề và việc làm như vậy đã làm suy yếu vai trò lãnh đạo toàn cầu không thể chối cãi của Mỹ. Vào cuối tháng 3, Mỹ đã triển khai các máy bay B-52 có khả năng mang vũ khí hạt nhân đến Hàn Quốc, do đó đem lại một mối đe dọa hạt nhân cho Triều Tiên. Bình Nhưỡng đáp lại rằng Bình Nhưỡng đã sẵn sàng tấn công lục địa Mỹ, cũng như Hawaii, Guam và Hàn Quốc. Sau đó, Triều Tiên đã thêm Tokyo vào danh sách này, mà Bình Nhưỡng đã đe dọa Tokyo sẽ “bị nhấn chìm trong ngọn lửa hạt nhân” nếu bắn hạ một tên lửa mà nhiều nguòi đã cho rằng Triều Tiên sẽ phóng nhưng điều đó chưa bao giờ được hiện thực hóa. Cho thấy rằng sự khiêu khích đó không phải là việc duy nhất đối với Bình Nhưỡng, Chính quyền Obama đã triển khai các máy bay ném bom tàng hình B-2 có khả năng mang vũ khí hạt nhân mà đã thả đạn giả xuống lãnh thổ Hàn Quốc. Không lâu sau, 2 máy bay ném bom tàng hình hình F-22 của Mỹ đã bay từ Nhật Bản đến Hàn Quốc để tham gia các cuộc diễn tập quân sự chung do Washington và Seoul tiến hành. Bình Nhưỡng sau đó đã thông báo rằng vũ khí hạt nhân của Bình Nhưỡng “đóng vai trò huyết mạch của quốc gia” và chúng “không thể bị từ bỏ hay đánh đổi lấy bất cứ điều gì chừng nào mà chủ nghĩa đế quốc và mối đe dọa hạt nhân còn tồn tại trên Trái Đất”, một lập trường mà sau đó họ đã thay đổi phần nào, như chúng ta sẽ xem xét bên dưới. Điều đã trở nên rất rõ ràng vào mùa Xuân 2013 đó là chính sách “kiên nhẫn chiến lược” về Triều Tiên của Chính quyền Obama đã chẳng làm được gì để thúc đẩy Bình Nhưỡng từ bỏ các vũ khí hạt nhân của mình.

Vòng luẩn quẩn: Các chính sách giống nhau, các kết quả giống nhau

Albert Einstein được cho rằng đã định nghĩa sự điên rồ là làm cùng một việc hết lần này đến lần khác và trông đợi những kết quả khác nhau. Việc chính sách về Triều Tiên của Chính quyền Obama theo đường lối tự do hoàn toàn tương đồng với chính sách của người tiền nhiệm bảo thủ – quả thực phần nhiều là hiếu chiến – ít nhất cho thấy rằng sự liên tục này có thể được gắn với khuynh hướng vốn có trong đường hướng của Washington đối với Triều Tiên. Tàn dư từ tời Chiến tranh Lạnh này giờ đây không phải là một khởi đầu thực tế để phát triển chính sách. Không chính quyền nào đã nỗ lực tạo ra nhiều điều mới mẻ trong việc đối phó với Triều Tiên. Do vậy, chẳng chính quyền nào tìm cách đạt được tiến bộ đáng kể trong việc giải quyết vấn đề hạt nhân Triều Tiên, àm đã trở nên ngày càng lớn kể từ khi nó nổi lên hồi năm 2002. Từ những sự ngờ vực của Mỹ rằng Bình Nhưỡng đã sở hữu một số vũ khí hạt nhân trước năm 2002, vấn đề hạt nhân Triều Tiên đã trở nên ngày càng tồi tệ hơn: sự rút lui của Triều Tiên khỏi Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân hồi năm 2003, việc nước này tiến hành 3 vụ thử hạt nhân và việc Triều Tiên vào cuối năm 2010 đã tiết lộ rằng nước này có một chương trình làm giù ruani, mà có thể trở thành một nguồn phân hạch khác cho vũ khí hạt nhân của nước này. Vấn đề căn bản là sự thù địch và ngờ vực giữa Washington và Bình Nhưỡng, cũng như giữa Seoul và Tokyo với Triều Tiên vẫn tiếp diễn, giống như việc Triều Tiên vẫn sở hữu vũ khí hạt nhân.

Cả Chính quyền Bush lẫn Chính quyền Obama đều không thể bỏ đi khuynh hướng thiên về sự hoài nghi và ngờ vực quá mức khỏi các chính sách về Triều Tiên của họ – đến mức điều này trở thành một sự đã rồi. Hơn nữa, cả Chính quyền Bush lẫn Chính quyền Obama đều đã không thực hiện được bất kỳ nỗ lực nào để hiểu được các nguyên tắc cơ bản của tư tưởng chủ thể của Triều Tiên. Tại cốt lõi của tư tưởng chủ thể là sự bảo vệ chủ quyền của Triều Tiên. Do vậy, khi Bình Nhưỡng nhận thấy rằng chính sách của Mỹ được dự định làm suy yếu chủ quyền của Triều Tiên, Bình Nhưỡng tiêu biểu đã là nahnh chóng thể hiện một số khía cạnh của chính sach songun, mà Washington đã ngay lập tức hiểu là sự hiếu chiến không bị kiềm chế của một nhà nước bất hảo đáng ngờ. Trong khi không thể phủ nhận rằng có những cách thức ít gây khó chịu hơn nhiều cho Bình Nhưỡng để giải quyết các bất đồng chính trị hơn là thể hiện chính sách songun, nhất là bằng việc thực hiện các vụ thử hạt nhân, kiểu phản ứng này là một phần vốn có của tư tưởng chủ thể của Triều Tiên, một điều gì đó mà Chính quyền Bush và Obama thường hay phớt lờ.

Kết quả của tất cả những điều này đó là vấn đề hạt nhân Triều Tiên không những không biến mất, sự kéo dài của nó còn làm trầm trọng thêm các vấn đề an ninh ở Đông Bắc Á, một khu vực ở đó cuộc Chiến tranh Lạnh chưa bao giờ chấm dứt. Hiện tại, các khả năng rằng Bình Nhưỡng sẽ phớt lờ tư tưởng chủ thể và đơn phương từ bỏ thành phần vũ khí hạt nhân của chính sách songun là không khả quan lắm, đặc biệt là sau khi Bình Nhưỡng lập luận rằng cuộc xâm lược Iraq do Mỹ lãnh đạo đã bào chữa cho Triều Tiên tăng cường chính sách songun. Một khi Bình Nhưỡng chứng tỏ được khả năng vũ khí hạt nhân của mình, họ trở nên tin chắc rằng chính sách songun đã lên đến mức thành một sức mạnh răn đe không thể bác bỏ. Dưới thời của ban lãnh đạo mới của Kim Jong Un, Triều Tiên cũng đã nhấn mạnh cam kết tiếp tục của mình đối với chính sách songun. Bình Nhưỡng đã nói rất rõ điều này trong bài xã luận nhân dịp năm mới 2012 được đồng xuất bản bởi các tờ báo hàng đầu của Triều Tiên (Rodong Sinmun, Joson Inmingun Chongnyon Jonwi). “Chúng ta phải đi đến cùng con đường của độc lập, con đường của chính sách songun và con đường đi đến chủ nghĩa xã hội mà lãnh tụ Kim Nhật Thành đã đi tiên phong, để đảm bảo rằng lịch sử về các hoạt động cách mạng của Kim Nhật Thành và lịch sử về sự lãnh đạo của cách mạng dựa trên chính sách songun của Kim Jong Il sẽ tiếp diễn mà không bị gián đoạn”.

Vấn đề nghiêm trọng là Triều Tiên càng duy trì lâu các vũ khí hạt nhân, sẽ càng khó để giải quyết vấn đề này. Việc Bình Nhưỡng hợp lý hóa việc sở hữu vũ khí hạt nhân của mình dựa trên một đường lối phát triển. Bình Nhưỡng coi việc sở hữu vũ khí hạt nhân như một sức mạnh răn đe và đem lại sự ổn định cho an ninh của Đông Bắc Á mà sẽ hữu ích trong việc thống nhất bán đảo Triều Tiên. Cụ thể, Triều Tiên càng duy trì lâu vũ khí hạt nhân của mình, Bình Nhưỡng sẽ càng dựa vào việc thống nhất bán đảo Triều Tiên để hợp lý hóa việc sở hữu vũ khí hạt nhân của mình và do đó người ta sẽ càng coi Triều Tiên là một quốc gia vũ khí hạt nhân ngay thật.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí Asian Affairs – tháng 4 – 6/2014

CVĐQT – số 11/2014

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s