Pierre Journoud

Tóm lược

Tư tưởng chiến lược của Việt Nam được khởi nguồn từ lịch sử quân sự phong phú và những kinh nghiệm độc nhất vô nhị từ các cuộc chiến tranh không cân sức. Tổng hợp từ những yếu tố nội sinh đúc kết từ nhiều thế kỷ, trải qua thử thách của nhiều cuộc chiến chống lại những đội quân hùng hậu của các triều đại Trung Hoa hay Mông Cổ, tư tưởng chiến lược của Việt Nam đã có sự kết nối chặt chẽ giữa nghệ thuật chiến tranh du kích của tổ tiên với những yếu tố thiết yếu của chiến tranh thông thường hiện đại, thêm vào đó là những tranh luận nội bộ mạnh mẽ về việc nên coi trọng những yếu tố nào hơn. Hiện nay, tư tưởng chiến lược của Việt Nam đang một lần nữa đứng trước thách thức bởi sự trỗi dậy của sức mạnh Trung Hoa cũng như vấn đề gia tăng xung đột chủ quyền tại Biển Đông. Nhằm giảm bớt sự tổn thương cho đất nước, các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam đã tìm cách tăng cường chiều sâu chiến lược thông qua các phương tiện ngoại giao, tìm kiếm các quan hệ đối tác với mối quan tâm giữ cân bằng giữa các cường quốc, hay bằng các phương tiện quân sự, cố gắng đạt đến một sự tổng hợp mới giữa khíai niệm truyền thống về chiến tranh nhân dân và một chiến lược còn trong phôi thai về “ngăn chặn xâm nhập”. Nếu việc bảo vệ chế độ Cộng sản vẫn là một ưu tiên, Đảng đã phải đánh giá lại đòi hỏi cấp bách phải bảo vệ chủ quyền lãnh thổ trước sự gia tăng tính quyết đoán của Trung Quốc cũng như trước sức mạnh của những xung năng manh tính dân tộc chủ nghĩa trong nhân dân, nảy sinh chính từ sự gia tăng tính quyết đoán của người láng giềng phương Bắc. Mong muốn của Đảng về việc thoát khỏi mối quan hệ nghiêng hẳn về Trung Quốc hoặc Mỹ mang đến những cơ hội cho Liên minh châu Âu và Pháp, quốc gia từng thỏa thuận một quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam vào năm 2013.

Việt Nam hiện phải đối diện với những mối đe dọa nào?

Cuốn Sách Trắng Quốc phòng Việt Nam không đề cập nhiều đến những mối đe dọa phi truyền thống như an ninh lương thực, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, thiên tai, vi phạm bản quyền hay chủ nghĩa khủng bố, dù chính các mối đe dọa này dẫn tới việc mở rộng những quan hệ song phương và đa phương đang ngày càng được nhân lên bởi Việt Nam. Tuy vậy, một vài mối đe dọa trong số này mang đến những lo lắng thực sự, như những hậu quả tai hại từ sự dâng cao của mực nước biển gắn với biến đổi khí hậu, ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp và việc tiếp cận các nguồn nước. Tại lưu vực sông Mekong, những vấn đề nói trên ngày càng trầm trọng với quyết định của Trung Quốc về việc xây dựng một loạt đập nước phía thượng nguồn sông Mekong.

Ngược lại, Sách Trắng năm 2009, ngay từ Lời tựa, không che giấu nguy cơ gắn với những mối đe dọa truyền thống: cạnh tranh giữa các cường quốc, vấn đề phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt và nhất là những tranh chấp về biển đảo, đặc biệt là những đe dọa ảnh hưởng đến “chủ quyền lãnh thổ và lợi ích quốc gia tại Biển Đông”, gây nên những “căng thẳng” có thể dẫn đến “xung đột”, như sự kiện với Trung Quốc, vào năm 1988, tại khu vực quần đảo Spratly (Trường Sa). Luôn hiện hữu trong mọi cuộc đàm thoại, nhưng sự trỗi dậy của “mối đe dọa Trung Quốc” không được nêu tên trong Sách Trắng, cũng như trong các tài liệu được công bố rộng rãi. Tuy vậy, các Sách Trắng đều thừa nhận rằng tranh cãi gây thiệt hại tới phát triển kinh tế biển, vốn đang được trông chờ góp phần ngày càng quan trọng vào nguồn lực quốc gia tại một đất nước có bờ biển trải dài từ Bắc vào Nam như Việt Nam và vì thế, trong tư tưởng chiến lược Nghị quyết 9 do Trung ương Đảng thông qua vào năm 2007 về “Chiến lược Biển của Việt Nam tới năm 2020” đã nhấn mạnh tầm quan trọng địa kinh tế và địa chiến lược của Biển Đông. Các Sách Trắng Quốc phòng nhắc lại tầm quan trọng của phép biện chứng giữa phát triển kinh tế, sự nghiệp mà quân đội tiếp tục tham dự tích cực, năng lực quốc phòng và hợp tác quốc tế – bộ ba đằng sau khái niệm “an ninh quốc gia toàn diện” đã được Bộ Chính trị xác định lần đầu trong Nghị quyết số 13 ngày 20/5/1988.

Chuyển biến cần thiết nhằm đối phó với Trung Quốc trong thế kỷ 21

Khía cạnh ngoại giao: Chiến lược bao bọc

Hiện tại cũng như trong quá khứ, với mức độ tương ứng với sự phụ thuộc lẫn nhau về chính trị và kinh tế giữa hai nước, chiến lược của Việt Nam được phát triển trên cơ sở của Trung Quốc. Ràng buộc chặt chẽ, mất cân bằng sâu sắc và mâu thuẫn một cách nguy hiểm, quan hệ Việt – Trung tại Việt Nam, được nhìn nhận qua một hệ thống giá trị dựa trên cơ chế vay mượn và sự khác biệt trên mọi lĩnh vực, đồng thời có cả những chuyển biến tiêu cực trước “kẻ thù phương Bắc” với những tham vọng bành trướng và bá quyền. Sự xâm nhập của Trung Quốc vào các tỉnh phía Bắc Việt Nam trong cuộc chiến chớp nhoáng năm 1979, sự kiện mang tính cấm kỵ về mặt chính thống với những ký ức chỉ được lưu giữ một cách rất kín đáo, đã gợi lên bóng ma về sự quay trở lại của “kẻ thù” truyền thống.

Sau khi thông qua chính sách Đổi Mới năm 1986 và tự do hóa thị trường nhằm tạo điều kiện cho tăng trưởng bền vững, Bộ Chính trị đã tích cực tìm kiếm các đối tác kinh tế và chính trị, hiện thực hóa chính sách ngoại giao đa phương từng được nêu thành chủ trương tại Đại hội lần thứ 7 năm 1991. Mong muốn về chính sách đối ngoại nói trên còn lớn hơn cả chính sách tập trung hóa nền kinh tế và chiến dịch quân sự tại Campuchia từng dẫn những nhà lãnh đạo Việt Nam đến bên bờ vực phá sản hồi đầu những năm 1980. Các nhà lãnh đạo Việt Nam đã phát triển dần các đối tác chặt chẽ hơn, chủ yếu là đối tác “toàn diện” và đối tác “chiến lược”. Với mong muốn chấm dứt sự đơn độc của Việt Nam sau sự thoái lui và sụp đổ của đồng minh Liên Xô trước đây, Đảng Cộng sản Việt Nam muốn củng cố chiều sâu chiến lược mà Đảng đã đúc kết từ sớm trong vùng ảnh hưởng truyền thống với việc tăng cường các hoạt động tại Lào và Campuchia. Mối lo từ sự trỗi dậy về sức mạnh và sự quyết đoán của Trung Quốc đã thúc giục Việt Nam tìm kiếm đối trọng.

Những yếu tố của sự cân bằng “mềm” ngoại giao bổ sung cho cân bằng “cứng” quân sự, hơn bao giờ hết các quan hệ đối tác trở thành một trong những yếu tố cốt yếu của chiến lược bảo hiểm rủi ro – một phiên bản được hiện đại hóa của chiến lược “lấy yếu chống mạnh”. Với việc mang đến một khuôn khổ ngoại giao ở mức cao nhất về mặt thực tiễn, nhưng lại thiếu các liên minh chắc chắn, các quan hệ đối tác cung cấp công cụ chủ yếu của quan hệ quốc tế sau thời kỳ Chiến tranh Lạnh có tác dụng làm cho các quan hệ ngoại giao linh hoạt hơn và phụ thuộc lẫn nhau nhằm ngăn chặn sự trở lại của thế giới lưỡng cực. Các quan hệ đối tác này không xóa bỏ được tất cả những khác biệt giữa các nước tham gia ký kết thỏa thuận đối tác nhưng bao hàm sự hợp tác chung có tính bền vững. Việt Nam từng là một trong 5 quốc gia đầu tiên ký kết thỏa thuận đối tác chiến lược với Nga vào năm 2001, và sau này, năm 2012 được nâng lên mức cao nhất là “đối tác chiến lược toàn diện”, giống như quan hệ đối tác chiến lược toàn diện ký kết với Trung Quốc vào năm 2008. Từ đây, mạng lưới quan hệ đối tác của Việt Nam không ngừng mở rộng. Tính đến năm 2014, Việt Nam đã ký kết 13 thỏa thuận đối tác chiến lược trong đó có Nhật Bản (năm 2006), Ấn Độ (năm 2007), Hàn Quốc (2009), Anh (2010), Đức (2011), Pháp, Indonesia, Singapore và Thái Lan (2013) và 11 đối tác toàn diện, trong số đó có Australia và New Zealand (2009), Mỹ và Ukraine (2013). Được thiết lập dựa trên những tiêu chuẩn về sức mạnh và tầm ảnh hưởng truyền thống – chính trị, quân sự và kinh tế – các quan hệ đối tác này tuy vậy không có cùng một sức nặng và không hề bảo đảm một cam kết tất yếu trong trường hợp xung đột vũ trang mà Việt Nam là nạn nhân cũng như không ủng hộ quan điểm cảu Việt Nam trong những tranh chấp biển đảo nhất là với Trung Quốc. Chính vì thế, Nga, dù là một trong các đối tác chính của Việt Nam và là nhà cung cấp vũ khí chính cho nước này, lại hoàn toàn không đưa ra quan điểm trong các tranh cãi lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Những đối tác chiến lược được nêu trong Sách Trắng Quốc phòng gần đây nhất được ban hành năm 2009, như một đóng góp quan trọng vào các mục tiêu trong chính sách đối ngoại và quốc phòng của Việt Nam: vấn đề bảo vệ độc lập quốc gia và chủ quyền lãnh thổ, thúc đẩy hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế, niềm tin chiến ược và sự ổn định của chế độ trong biên giới lãnh thổ. Để củng cố độ tin cậy trong khía cạnh ngoại giao của chiến lược, Bộ Chính trị đánh giá cần phải hiện đại hóa một phần nền quân sự, tránh tụt hậu.

Về mặt quân sự: Hướng đến một chiến lược ngăn chặn xâm nhập

Từng được biết đến là đội quân có sức mạnh hàng đầu ở khu vực Đông Nam Á, Quân đội nhân dân Việt Nam đã bị Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc vượt xa. Để đối phó với sự vượt trội về sức mạnh của Trung Quốc và tăng cường phòng vệ lãnh thổ ven biển và chủ quyền biển đảo, Việt Nam đã phác thảo một chiến lược “ngăn chặn xâm nhập” ở Biển Đông, giống như người Trung Quốc tránh xa Mỹ ở Tây Thái Bình Dương. Chi tiêu dành cho quốc phòng của Việt Nam với mức tăng 113% trong khoảng thời gian 2004 – 2013, mức tăng cao nhất ở Đông Nam Á đã thúc đẩy hiện đại hóa lực lượng hải quân và không quân. Năm 2009, với việc mua của Nga 6 chiếc tàu ngầm lớp Kilo được trang bị tên lửa đạn đạo có tầm bắn 280 km, Việt Nam đã thể hiện một nỗ lực chưa từng có để trước nhất làm chủ năng lực hải quân này. Một năng lực tấn công thường trực như vậy xứng đáng đưa Việt Nam vào hàng ngũ những quốc gia đứng đầu ở Đông Nam Á trước và sau năm 2020, về sở hữu hạm đội tàu ngầm hải quân. Để bảo vệ lãnh thổ và trang thiết bị quân sự trên mặt nước trong những hoàn cảnh đụng độ hải quân, Hà Nội cũng đã trang bị máy bay chiến đấu Su-30 MK2, được trang bị tên lửa đánh chặn, bên cạnh 12 máy bay Su-27 khá hiện đại và nhiều máy bay Mig mà Việt Nam đã sở hữu, và còn có cả 6 máy bay HDC-6 hai người lái của Canada, thích hợp cho việc tuần tra trên biển.

Dù được hỗ trợ bởi một chính sách mang tính chủ động và hợp tác hơn trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng nhằm tăng cường sự chủ động chiến lược của Việt Nam, những năng lực quân sự mới này của Hà Nội chắc chắn còn xa mới đạt tới mức độ về số lượng và chất lượng như của Bắc Kinh. Trung Quốc sở hữu những phương tiện có thể vô hiệu hóa các năng lực quân sự mới của Việt Nam và công khai điều này, nhất là liên quan đến những tên lửa đạn đạo trong các tàu ngầm lớp Kilo của Việt Nam. Trung Quốc có thể thể hiện sự vượt trội về mặt quân sự và tài chính trong một cuộc chiến tiêu hao. Hơn nữa, thiếu sự gia tăng đáng kể về quân số và hải quân và không quân của Việt Nam, vấn đề bảo dưỡng các tàu hải quân và máy bay còn chưa đủ để các trang thiết bị nói trên thực sự ở mức tác chiến hoàn hảo nhất, nhất là với thực tế chiều dài bờ biển của Việt Nam phải bảo vệ lên tới hơn 3200 km, nơi trước đây từng chứng kiến rất nhiều sự xâm lược suốt chiều dài lịch sử đất nước… Cuối cùng, còn một thách thức không nhỏ về sự phụ thuộc tác chiến lẫn nhau, vấn đề đòi hỏi sự hội nhập gia tăng giữa hệ thống phòng không (máy bay chiến đấu và tên lửa đất đối không), pháo bờ biển, tên lửa dẫn đường từ các tàu hộ tống chống tàu ngầm và những tàu tấn công nhanh. Tuy nhiên, sự gia tăng các năng lực của Việt Nam, nếu điều này được tiếp tục, sẽ khiến chủ nghĩa phiêu lưu của Bắc Kinh trên vùng bờ biển và đảo của Việt Nam trở nên phức tạp và tốn kém hơn. Với việc kết hợp một chiến lược được cải tiến về chiến tranh nhân dân bao gồm cả khía cạnh truyền thống của chiến tranh du kích trên sông lẫn trên biển, với chiến lược chống lại sự xâm nhập, Hà Nội củng cố niềm tin vào tham vọng răn đe đối với Trung Quốc, dù có những yếu kém rõ rệt về phương tiện quân sự và kinh tế.

(còn tiếp) 

Nguồn: diploweb.com

TLTKĐB – 25/11/2016

Pierre Journoud là cựu Giám đốc Chương trình Đông Nam Á tại Viện Nghiên cứu Chiến lược thuộc Trường Quân sự – IRSEM (Pháp). Từ tháng 9/2015 tới nay, ông là giáo sư lịch sử đương đại tại Đại học Paul-Valery Montpellier. Ông cũng là thành viên đồng sáng lập Hội đoàn Lợi ích Khoa học GIS chuyên về các nghiên cứu chiến lược, chính trị và quan hệ quốc tế (ESPRIT). Ông cũng là thành viên đoàn tháp tùng Tổng thống Cộng hòa Pháp trong chuyến thăm chính thức Việt Nam từ ngày 5 – 7/9/2016.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s