Trước động thái bành trướng của Bắc Kinh trên biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), các nước trong khu vực do dự trong việc có đặt mình dưới “chiếc ô bảo trợ của Mỹ” hay không: Thứ nhất, họ nghi ngờ tính hiệu quả của sự bảo trợ đó; mặt khác, họ lo ngại điều đó có thể kích động những đòn trả đũa từ “nước láng giềng lớn” của họ. Căng thẳng gia tăng trong những tuần gần đây khi sắp tới thời điểm Tòa Trọng tài thường trực (PCA) ở La Haye có thể ra phán quyết. Trước đó, PCA đã thụ lý hồ sơ vụ Philippines kiện Trung Quốc về chủ quyền các hòn đảo ở quần đảo Trường Sa – mà 5 chủ thể trong khu vực cùng tuyên bố chủ quyền: Trung Quốc – tính cả vùng lãnh thổ Đài Loan, Philippines, Brunei, Malaysia và Việt Nam. Ở phía Bắc Biển Đông, Hoàng Sa cũng là quần đảo mà Bắc Kinh và Hà Nội tranh chấp chủ quyền.

Tham dự Hội nghị Shangri-La tại Singapore mới đây, Bộ trưởng Quốc phòng các nước chủ chốt của khu vực, cũng như các nước châu Âu và Mỹ đã thảo luận về tình hình Biển Đông. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter đã lên tiếng phản đối mọi ý đồ bành trướng của Trung Quốc. Ông nói: “Việc Trung Quốc thực hiện các hoạt động xây dựng trên rạn san hô Scarborough (trên quần đảo Trường Sa), thuộc vùng biển Philippines, có thể sẽ khiến Mỹ và các nước khác phải hành động”. Đáp lại, Đô đốc Tôn Kiến Quốc, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Trung Quốc, đã thẳng thừng tuyên bố: “Chúng tôi không gây rắc rối, nhưng chúng tôi không sợ rắc rối”, và nói thêm rằng “các nước bên ngoài cần phải đóng một vai trò xây dựng, chứ không phải ngược lại”.

Câu nói trên ám chỉ đến sự hiện diện của Mỹ mà Trung Quốc coi là một thế lực bên ngoài không nên can thiệp vào các vấn đề gây chia rẽ các nước xung quanh Biển Đông. Trái lại, ở Washington, người ta đánh giá rằng các thủ đoạn của Bắc Kinh đang đe dọa tự do hàng hải và các thỏa thuận quốc phòng mà Mỹ ký kết với nhiều nước, trong đó có Philippines, thể hiện sự cam kết của nước này.

Sau thất bại của Nhật Bản vào cuối Chiến tranh thế giới thứ hai và sau đó với bối cảnh khu vực trong những năm 1970 – 1980, các nước xung quanh Biển Đông đã phân chia nhau các đảo có người ở. Ngoài các hành động quân sự riêng lẻ, như năm 1974 tấn công một đơn vị đồn trú Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc ít nhiều vẫn bị chi phối bời các vấn đề nội bộ. Tình hình chỉ thay đổi vào đầu những năm 2000. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã triển khai một chính sách đối ngoại chủ động hơn, đặc biệt đối với khu vực, và họ bắt đầu tuyên bố chủ quyền đối với phần lớn Biển Đông. Chính sách này đã trở thành “vấn đề mang tính quốc gia” giống như vấn đề Tây Tạng và Đài Loan.

Trung Quốc hiện đối mặt với ba thách thức. Một mặt, Trung Quốc muốn lấy lại những vùng lãnh thổ mà họ coi là đã bị chiếm đóng vào những giai đoạn họ suy yếu. Tiếp đến, họ muốn chiếm đoạt nguồn tài nguyên biển dồi dào, bao gồm cả các nguồn hải sản và các mỏ dầu (trữ lượng dầu ước tính lên tới 11 tỷ thùng, và cả nguồn khí đốt tự nhiên). Cuối cùng, Trung Quốc tìm cách kiểm soát Thái Bình Dương, và đưa các tàu ngầm hạt nhân tại căn cứ Tam Á (trên đảo Hải Nam) ra vùng biển này.

Năm 2009, Bắc Kinh đã tung ra tấm bản đồ “đường 9 đoạn”, thể hiện rõ yêu sách chủ quyền đối với 90% diện tích Biển Đông. Năm 2013, Trung Quốc đã thêm “đoạn thứ 10” vào tấm bản đồ này, và có những động thái rõ rệt. Trung Quốc bắt đầu bồi lấp, tôn tạo, xây dựng đảo nhân tạo đối với 6 đảo nhỏ không có người ở hay là các bãi đá ngầm mà họ có ý định biến thành các căn cứ dân sự hoặc quân sự. Hành động “khai hoang” này nhằm đảo bảo cho Trung Quốc có những điểm tựa và cho phép họ có thể mở rộng vùng biển tuyên bố chủ quyền.

Mỹ và các nước trong khu vực cho rằng rõ ràng Trung Quốc – dù không có truyền thống là một cường quốc biển – đã chuyển từ việc bảo vệ các đường bờ biển của họ sang một cính sách bảo vệ các lợi ích của họ ngoài biển khơi, cho dù Hải quân Trung Quốc không phải là lực lượng phát triển nhất trong các lực lượng của họ và cho đến nay nước này chỉ có một tàu sân bay duy nhất, được mua của Ukraine.

Sự thay đổi lớn trong chiến lược này của Trung Quốc được bắt đầu trước khi Tập Cận Bình lên nắm quyền vào năm 2012, và được thể hiện rõ rệt trong thế đối trọng với chiến lược “xoay trục” sang châu Á của Mỹ. Đó không phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Dù Trung Quốc, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, chưa thể khẳng định là một đối thủ cạnh tranh toàn cầu của Mỹ – bởi ngân sách quân sự của Trung Quốc, dù tăng đều đặn, chỉ bằng 1/3 ngân sách quân sự của Mỹ – thì họ vẫn có thể là một đối thủ đáng gờm trong khu vực.

Với chiến lược “xoay trục” của Mỹ sang châu Á, 60% lực lượng vũ trang của nước này sẽ hiện diện ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, gây bất lợi cho châu Âu và Trung Đông. Mục tiêu đã thực sự được đặt ra trước các cuộc chiến ở Ukraine và Syria. Và ưu tiên vẫn được duy trì. Washington thắt chặt các mối quan hệ với các đồng minh truyền thống của mình trong khu vực và phát triển những mối quan hệ mới với những nước thù địch trước đây. Mỹ đã quyết định điều lực lượng hải quân tới cảng Darwin (Australia), và vào năm 2016, đã mở cửa trở lại 5 căn cứ quân sự ở Philippines, đồng thời gia hạn các thỏa thuận quốc phòng.

Trong chuyến thăm Hà Nội vào tháng 5 vừa qua, Tổng thống Mỹ Barack Obama tuyên bố dỡ bỏ lệnh cấm vận bán vũ khí cho Việt Nam. Các tàu của Mỹ cũng được phép ghé thăm căn cứ Cam Ranh. Năm 2010, tại Diễn đàn khu vực ASEAN lần thứ 17, bà Hillary Clinton, khi đó là Ngoại trưởng, đã ca ngợi vai trò hòa giải của Mỹ trong việc tôn trọng luật pháp quốc tế và giải quyết hòa bình các cuộc xung đột. Một năm sau, trong một bài viết trên tạp chí Foreign Affairs có tựa đề “Thế kỷ Thái Bình Dương của Mỹ”, bà đã gán cho nước Mỹ sứ mệnh “duy trì hòa bình và an ninh trên toàn bộ khu vực châu Á – Thái Bình Dương”.

Sứ mệnh này của Mỹ không được Trung Quốc hưởng ứng, bởi Trung Quốc coi chính sách của Mỹ như là một hành vi can thiệp vào công việc nội bộ của các nước châu Á. Bắc Kinh bác bỏ bất kỳ cuộc thảo luận quốc tế nào về các tranh chấp lãnh thổ giữa các nước trong khu vực, và trái lại, đề nghị tiến hành các cuộc đàm phán song phương. Các nước láng giềng từ chối các cuộc đàm phán này bởi họ thấy ở vị thế yếu nếu như không có sự hỗ trợ của Mỹ.

Thái độ này chứa đựng không ít mâu thuẫn. Nó được thể hiện rõ ràng bởi tân Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte: Ông này muốn vẫn là đồng minh của phương Tây song không cấm việc đối thoại với Bắc Kinh, một kiểu “ngoại giao thận trọng” mà phóng viên Bruno Philip của tờ Le Monde đã đề cập khi nói về Việt Nam. Những đe dọa của Trung Quốc cũng gây ra hai hệ quả trái ngược nhau. Chúng đẩy các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương chấp nhận sự bảo trợ của Mỹ, nhưng đồng thời cũng ngăn các nước này đi quá xa trong mối liên minh với Mỹ do lo ngại Trung Quốc trả đũa.

Mặt khác, ngay cả những đồng minh thân cận nhất của Mỹ cũng vẫn hoài nghi về độ tin cậy của cam kết mà nước này đưa ra. Mỹ muốn “ngăn chặn” Trung Quốc, dù không công khai thừa nhận điều này, song liệu Mỹ sẵn sàng chấp nhận rủi ro đối với các đồng minh của họ đến mức nào khi cho rằng những lợi ích sống còn của họ không bị đe dọa?

Chiến dịch bầu cử của Mỹ không giúp trấn an các đồng minh. Ông Donald Trump đề xuất một chính sách đối ngoại theo kiểu chủ nghĩa biệt lập. Ông đã sẵn sàng rút quân đội Mỹ khỏi Nhật Bản và để cho Tokyo trang bị vũ khí hạt nhân nhằm rũ bỏ mối bận tâm về sự an toàn của quốc đảo vốn cũng có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc trong vấn đề quần đảo Senkaku/Điếu Ngư.

Về phía đảng Dân chủ, bà Hillary Clinton dường như đã giảm bớt sự ủng hộ nhiệt tình đối với những cam kết cảu Mỹ ở châu Á. Sau khi đã ủng hộ Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) vốn có thể sẽ tạo ra một khu vực thương mại tự do rộng lớn giữa Mỹ và 11 nước châu Á, ngoại trừ Trung Quốc. Hẳn là trong thời gian tranh cử, bà Hillary Clinton muốn làm an lòng cá cử tri vốn đang lo ngại TPP có thể làm mất đi công ăn việc làm của họ. Một khi được bầu, bà Hillary Clinton có thể sẽ can thiệp nhiều hơn và thể hiện rõ là người theo chủ nghĩa quốc tế hơn so với đối thủ đảng Cộng hòa. Nhưng các nước châu Á nghĩ về Trung Quốc cũng giống như người Mexico nghĩ về Mỹ: Quá xa Chúa, quá gần Mỹ (ý nói một nước ở quá xa một nước thân thiện, song lại quá gần một nước có ý đồ xấu – ND).

Nguồn: Mạng Telos – 15/06/2016

TLTKĐB – 26/06/2016

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s