Pierre Journoud

…..

Sự cân bằng vô cùng tế nhị

Từ cuộc khủng hoảng Việt – Trung gần đây nhất vào mùa Xuân 2014, với việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan dầu trong vùng biển mà Việt Nam cho rằng nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của mình, ngoài khơi quần đảo Paracels (Hoàng Sa), các nhà lãnh đạo Việt Nam đã thúc đẩy chiến lược quốc tế hóa xung đột, vốn đã được khởi động từ những năm 2000 – 2010. Việc thực hiện chiến lược quốc tế hóa xung đột nói trên không đơn giản bởi phải đảm bảo vấn đề này không được gây nguy hại tới đối thoại cấp cao mà các nhà lãnh đạo Việt Nam đang duy trì. Vừa khẳng định một vị thế trung lập, vốn dựa trên chính sách “3 không” (không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào; không cho bất kỳ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia), các nhà lãnh đạo Việt Nam đã thành công trong việc thúc đẩy sự xích lại với nhiều cường quốc có thể mang đến một đối trọng thực sự, ngay cả trong lĩnh vực nhạy cảm là hợp tác quốc phòng. Năm 2014 từng ghi nhận việc công bố lần lượt ba sự kiện đáng chú ý: Nhật Bản bàn giao 6 tầu tuần tra cho Cảnh sát biển Việt Nam, Mỹ dỡ bỏ một phần lệnh cấm vận về vũ khí sát thương đối với Việt Nam và Ấn Độ cung cấp gói tín dụng trị giá 100 triệu USD cho Việt Nam trong lĩnh vực quốc phòng để đổi lại quyền về khai thác dầu khí. Không nghi ngờ gì nữa, dù còn tồn tại một vài rào cản có tính song phương, Việt Nam đang có tầm quan trọng gia tăng trong chính sách của 3 quốc gia là đối thủ chiến lược đối với Trung Quốc – Mỹ (với chính sách “xoay trục” sang châu Á), Nhật Bản (Hướng về phía Nam) và Ấn Độ (Hành động phía Đông). Chiến lược hướng đến việc đánh giá cao quan hệ với các cường quốc mà không quá xích lại gần với một quốc gia nào trong số các cường quốc này nhằm gây hại cho các quốc gia khác, cũng làm gia tăng nguy cơ Việt Nam sẽ một lần nữa bị lôi kéo hay bị biến thành công cụ trong các căng thẳng, khủng hoảng hay xung đột không thực sự liên quan trực tiếp đến Việt Nam. Nhưng Việt Nam đã hội nhập sâu vào ASEAN và những mối quan hệ đối tác rộng mở khác nữa, vốn trở thành một yếu tố cốt yếu trong chiều sâu chiến lược của Việt Nam bao gồm các mối quan hệ đa phương như Liên hợp quốc, EU, ASEAM hay APEC…, Việt Nam chắc chắn cảm thấy tự tin hơn để xoay xở theo cách tốt nhất nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia và duy trì chính sách ngoại giao giữ khoảng cách cân bằng giữa các cường quốc, tránh mọi phản ứng không cân bằng của Trung Quốc.

Dù việc theo đuổi tiến trình tư tưởng chiến lược là không dễ dàng, quá khứ cũng như hiện tại, tính đến những phức tạp xung quanh quá trình ra quyết định tập thể trong Bộ Chính trị, những mục tiêu mà Quân ủy Trung ương xác định cho chiến lược lược là rõ ràng: bảo vệ chế độ Cộng sản, bảo vệ lãnh thổ Việt Nam chống lại tất cả những mối đe dọa bên trong và bên ngoài. Như vậy, vấn đề phòng vệ dựa vào nhân dân và những thành viên ưu tú của Đảng. Bên cạnh những thách thức an ninh bên ngoài do Trung Quốc gây nên còn có cả những khó khăn về an ninh nội bộ. Sự sống còn của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức mà tính chính đáng có được nhờ vào những thành tựu chính trị – quân sự và sau này là kinh tế với sự đóng góp đáng kể của Trung Quốc, phụ thuộc không chỉ ở sự tiếp tục ủng hộ của Trung Quốc, mà còn cả sự dính kết của những thành viên ưu tú và nhân dân. Vậy nếu, Đảng càng tỏ ra nhượng bộ trước sức ép của Trung Quốc, bởi cân bằng sức mạnh ngày càng có lợi cho Trung Quốc, để đổi lấy sự ủng hộ chính trị và tài chính, thì người dân trong sâu thẳm lại càng rơi xa chế độ. Như những vụ việc biểu tình bạo lực xảy ra vào mùa Hè 2014 chống lại những lợi ích tư nhân được gán cho Trung Quốc đã cho thấy, mối nguy chính đối với các nhà lãnh đạo Việt Nam là ở sự hợp lại của hai điều bất mãn bên trong và bên ngoài đất nước, điều mà các nhà lãnh đạo đang nỗ lực phòng ngừa. Không nghi ngờ gì nữa, giới lãnh đạo cao cấp đang có sự chia rẽ giữa những người theo xu hướng cải cách, tán thành tự do hóa chính trị, phần lớn được đào tạo tại Mỹ và quan tâm hơn đến quyền con người, diễn giải những thỏa thuận đối tác, phần lớn được ký kết với các nền dân chủ, như một xu hướng tạo điều kiện cho vấn đề dân chủ hóa từng bước của chế độ, vốn là những đòi hỏi của những người Việt Nam ở nước ngoài với tiếng nói ngày càng có ảnh hưởng trong xã hội dân sự hiện đang ở thời kỳ ấp ủ. Với những cuộc tranh luận trong nước như vậy, viễn cảnh về một giai đoạn mới trong sự xích lại gần với Mỹ, nhất là việc ký kết Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) mà Hà Nội hy vọng giảm bớt được sự phụ thuộc thương mại và tài chính vào Trung Quốc – đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam từ năm 2004 – mang một đặc trưng nhạy cảm hơn, biểu hiện quan hệ biện chứng giữa an ninh và sự độc lập kinh tế, vấn đề được Đảng khích lệ từ những năm 1990.

Chưa một văn bản nào được xây dựng về chương trình kiểm tra, được tiến hành năm 2013 đối với Nghị quyết 8 do Ban Chấp hành Trung ương Đảng thông qua vào Hội nghị lần thứ 8 năm 2003. Là tấm gương phản chiếu chiến lược “vừa hợp tác vừa đấu tranh”, nghị quyết này coi Trung Quốc là một quốc gia để “hợp tác” và Mỹ là quốc gia mà Việt Nam phải đấu tranh chống lại, bởi sự ủng hộ của Mỹ đối với nhân quyền và sự phê phán của quốc gia này đối với chế độ một Đảng lãnh đạo của Việt Nam, điều bị coi là mối đe dọa với “những lợi ích quốc gia” của Việt Nam. Từ nay trở đi, nếu Việt Nam coi Mỹ, giống như Trung Quốc, vừa là đối tác, vừa là đối thủ tiềm năng, Đảng Cộng sản không có bất kỳ lợi ích nào trong việc khép mình trong sự cạnh tranh chiến lược ngày càng gia tăng giữa hai cường quốc thế giới này, mà ở đây Biển Đông đang dần trở lại là một trong những khu vực để thể hiện sự ganh đua này.

Vị thế nào cho Liên minh châu Âu và nước Pháp?

Năm 2013, Liên minh châu Âu (EU) là đối tác thương mại thứ 2 của Việt Nam (11,3%) sau Trung Quốc (23%), và EU là nhà đầu tư thứ 2, sau Mỹ, vào Việt Nam. Do đó, EU có thể là một giải pháp thay thế cho tình huống này. EU ngày càng quan tâm đến những nhân tố bất ổn tại khu vực và đặc biệt quan tâm tới nguy cơ một cuộc xung đột trên biển có thể gây hại đến ổn định kinh tế của mình. Vì thế EU đề xuất chia sẻ kinh nghiệm phong phú của mình về những tranh chấp biển đảo và bảo vệ, với một “sức mạnh mềm”, một giải pháp hòa bình dựa trên việc tôn trọng luật pháp quốc tế. EU trở thành một yếu tố cân bằng có lợi mà Hà Nội ngày càng quan tâm. Trước sự gia tăng căng thẳng song phương giữa một bên là Bắc Kinh với bên kia là Hà Nội và Manila (Philippines), nước Pháp, dù ở cách xa khu vực này, nắm giữ những lợi thế không thể phủ nhận. Thái độ khá thờ ơ của Pháp trong việc tìm kiếm giải pháp cho các xung đột lãnh thổ, trong đó Pháp có một phần trách nhiệm là cường quốc thực dân trước đây, không nghi ngờ gì nữa làm giảm bớt vị thế của nước Pháp tại khu vực. Sự thờ ơ ấy cũng có thể đã góp phần vào sự thất bại của những nỗ lực của Pháp nhằm hòa nhập vào các cấu trúc đa phương tích cực như ADMM+ trong khi những nhà chiến lược của Việt Nam coi việc giải quyết xung đột biển đảo là ưu tiên hàng đầu của họ. Trong khi đó, tồn tại nhiều yếu tố có lợi cho Pháp với một vị thế ngoại giao có tính trung gian, tích cực và rõ ràng hơn, trong cuộc xung đột tại Biển Đông, vốn đang là một thách thức an ninh lớn nhất của Việt Nam hiện nay: vị trí của nước Pháp trong EU mà những nhà lãnh đạo Việt Nam xem như một trong những nhân tố quan trọng duy trì cân bằng đa cực và khả năng mà Pháp có để đầu tư tích cực hơn vào những diễn đàn đối thoại chính trị hiện có, ví dụ trong khuôn khổ ASEM; ký ức vẫn còn sống động tích cực về sự lựa chọn quan điểm của Tướng De Gaulle và những nỗ lực ngoại giao của Pháp nhằm tạo thuận lợi cho việc giải quyết các xung đột từng giằng xé bán đảo Đông Dương trong những năm 1960 – 1990; cuối cùng, lợi thế so sánh mà nước Pháp sở hữu so với những đối thủ cạnh tranh châu Âu khác, trong vai trò một cường quốc quân sự, nhà xuất khẩu vũ khí và cường quốc tại Thái Bình Dương với những phần lãnh thổ cùng công dân Pháp sinh sống tại khu vực này. So với các quốc gia châu Âu khác, Pháp có mối quan hệ quốc phòng khá tốt với Hà Nội, dựa trên những chia sẻ liên quan đến tình hình địa chính trị và một số quan hệ hợp tác đã được xác định. Nhưng, một “quan hệ đối tác chiến lược” nếu thiếu nội dung liên quan đến một trong những thách thức an ninh quan trọng của khu vực, đến một lúc nào đó có thể sẽ làm nảy sinh, tại Việt Nam, những thất vọng gây thiệt hại cho toàn bộ mối quan hệ Pháp – Việt.

Nguồn: diploweb.com

TLTKĐB – 25/11/2016

Pierre Journoud là cựu Giám đốc Chương trình Đông Nam Á tại Viện Nghiên cứu Chiến lược thuộc Trường Quân sự – IRSEM (Pháp). Từ tháng 9/2015 tới nay, ông là giáo sư lịch sử đương đại tại Đại học Paul-Valery Montpellier. Ông cũng là thành viên đồng sáng lập Hội đoàn Lợi ích Khoa học GIS chuyên về các nghiên cứu chiến lược, chính trị và quan hệ quốc tế (ESPRIT). Ông cũng là thành viên đoàn tháp tùng Tổng thống Cộng hòa Pháp trong chuyến thăm chính thức Việt Nam từ ngày 5 – 7/9/2016.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s