Thậm chí ở những nơi không rõ ràng nhất, cũng có bằng chứng về việc chính phủ đã nhận ra rằng các thể chế pháp lý của họ không còn thích ứng với điều kiện kinh tế ngày nay. Năm 1992, Hãng tin Reuters tường thuật rằng nhà lãnh đạo Libya, Mu’ammar Gadhafi đã thiêu ra tro các chứng thư sở hữu đất của Libya. Đại tá Gadhafi, đã thông báo trong một cuộc họp của Bộ Tư pháp của ông ta rằng, “Tất cả các hồ sơ và tài liệu trong sổ đăng bạ đất cũ, những cái chỉ ra rằng một khoảnh đất thuộc về bộ tộc này hay bộ tộc kia, đã bị đốt sạch, chúng bị đốt đi bởi vì chúng đã dựa trên sự bóc lột, giả mạo, và cướp bóc”.

Ở một số nước, khu vực ngoài pháp luật bây giờ là phần gốc rễ của hệ thống xã hội. Người dân Touba, Senegal, những người bán rong trên các vỉa hè của New York và của các thành phố lớn khác ở Mỹ, thường là bộ phận của một giáo phái Hồi giáo Phi châu tinh vi đã đưa hàng triệu đôla lợi nhuận về thành phố quê hương của họ. Tờ Newsweek mô tả Touba như là:

một quốc gia trong một quốc gia, phần lớn được miễn trừ khỏi luật pháp Senegal… [và] là thành phố phát triển nhanh nhất nước. Toàn bộ các làng được tái định cư ở đây, dựng lên các lán bằng tôn giữa những biệt thự có tường bao quanh của những người giàu… Thành phố miễn thuế này là trung tâm của Senegal về giao thông và các đế chế bất động sản, khu vực phi chính thức hưng thịnh, và buôn bán lạc [đậu phộng], nguồn trao đổi ngoại hối chính của quốc gia.

Ở những nơi khác của thế giới, sự lo ngại của những người ngoài pháp luật về việc họ mất tài sản có thể châm ngòi cho sự xung đột công khai. Đó là trường hợp của Indonesia mà những vấn đề của nó được báo chí nêu nhiều trong những năm qua. Quay lại 6 năm về trước, tờ Economist đã cảnh báo:

Người nghèo bực mình về việc mất tài sản của mình do quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa tạo ra nhu cầu về đất, mà trong nước đó có quyền sở hữu đất là một việc cực kỳ xa vời. Chỉ có 7% đất trên quần đảo Indonesia có chủ sở hữu rõ ràng. Không thể tránh khỏi các trao đổi sử dụng giấy chứng nhận thật và giả. Những người cố gắng mua đất đôi khi thấy rất đông chủ không thể chối cãi được. Và các ngân hàng ngại chấp nhận việc thế chấp đất cho một khoản vay.

Ở những nơi khác, tình trạng ngoài pháp luật được liên tưởng tới sự khốn khổ: “Ở Bombey… hai phần ba trong số 10 triệu dân của thành phố sống trong các lán một phòng hoặc trên vỉa hè. Mặc dù vậy, những người ngoài pháp luật ở các nước khác vẫn đang leo lên các bậc thang kinh tế. Theo Tổ chức Đánh giá Kỹ thuật của Peru (Cuero Técnico de Tasaciones del Perú), giá trị đất trong khu vực phi chính thức của Lima trung bình ở mức 50 USD/m2, trong khi ở vùng Gamarra, nơi có khu vực chế phi chính thức rất lớn hoạt động, giá trị của một m2 đất có thể lên cao tới mức 3000 USD. Ở Aviación, một trung tâm ngoài pháp luật khác ở Lima, đất đáng giá 1000 USD/m2; và ở Chimú của khu Zárate là 400 USD/m2. Ngược lại, MIraflores và San Isidro, những nơi có nhiều tiềm năng nhất Lima, giá trị tài sản đất hợp pháp, có chứng thư quyền sở hữu là từ 500 USD đến 1000 USD/m2.

Đây là một câu chuyện cũ

Một khi các chính phủ hiểu rằng những người nghèo đã kiểm soát lượng khổng lồ bất động sản và các đơn vị sản xuất kinh tế, thì họ sẽ nhận ra một cách rõ ràng, những vấn đề họ phải đối mặt là do các văn bản luật không phù hợp với cách mà đất nước của họ thật sự hoạt động. Đó chính là lý do nếu văn bản luật mâu thuẫn với luật của dân thì sự bất mãn, tham nhũng, đói nghèo và bạo lực sẽ chắc chắn xảy ra.

Vấn đề còn lại chỉ là các chính phủ sẵn sàng tiến hành vào thời gian nào để hợp pháp hóa các tài sản ngoài pháp luật này bằng cách tích hợp chúng vào một khuôn khổ pháp luật nhất quán và ngăn nắp. Ngược lại, là duy trì mãi mãi tình trạng pháp lý hỗn loạn trong đó hệ thống quyền sở hữu hiện tại tiếp tục tranh đua với hệ thống ngoài pháp luật. Nếu các nước này đạt đến một hệ thống pháp luật duy nhất, thì luật chính thống phải thích ứng được với áp lực to lớn ngoài pháp luật về mở rộng quyền sở hữu.

Tin vui là các nhà cải cách pháp luật sẽ không phải bước xuống vực thẳm. Thách thực họ đối mặt, mặc dù là to lớn, đã xuất hiện ở nhiều nước trước đây. Các nước đang phát triển và xã hội chủ nghĩa trước đây đang đối mặt với những thách thức (mặc dù ở mức độ kịch tính hơn nhiều) hệt như các nước tiên tiến đã giải quyết giữa thế kỷ XVIII và Chiến tranh thế giới thứ hai. Tình trạng ngoài pháp luật hàng loạt không phải là một hiện tượng mới. Nó luôn luôn xảy ra khi các chính phủ thất bại trong việc làm cho luật phù hợp với cách người dân sống và làm việc.

Khi cách mạng công nghiệp bắt đầu ở châu Âu, các chính phủ cũng đã phải đau đầu bởi dân di cư không kiểm soát nổi, bởi sự tăng lên của khu vực ngoài pháp luật, bởi nghèo đói ở đô thị, và bởi náo động xã hội. Lúc đầu họ cũng đã giải quyết các vấn đề này từng cái một theo cách manh mún.

Điểm không nhận thấy II: cuộc sống ở ngoài lồng kính hôm qua

Di chuyện đến các thành phố

Hầu hết các học giả gắn cuộc đại cách mạng công nghiệp và thương mại ở châu Âu với sự di cư hàng loạt đến các thành phố, sự gia tăng dân số do có ít các tai họa hơn, và sự giảm sút thu nhập ở nông thôn so với thu nhập ở thành thị. Trong thế kỷ XVII và XVIII, công nhân ở các thành phố bắt đầu nhận được lương cao hơn những người ở nông thôn để thực hiện các dự án xây dựng theo lệnh của giai cấp thống trị. Hiển nhiên là, những người nông dân có nhiều tham vọng hơn đã di cư ra các thành phố, bị cám dỗ bởi triển vọng lương cao hơn.

Ở nước Anh, làn sóng di cư đầu tiên bắt đầu vào cuối thế kỷ XVI. Bị đảo lộn bởi số người nhập cư ngày càng tăng ở các thành phố và sự bất ổn sinh ra, các nhà chức trách đã cố kìm nhịp độ tăng bằng các biện pháp thay thế tạm thời như phân phối thực phẩm cho những người nghèo. Cũng đã có các biện pháp kiên quyết để thuyết phục người dân trở về nông thôn. Một loạt các luật đã được thông qua vào các năm 1662, 1685 và 1693 yêu cầu công dân trở về nơi sinh hoặc về nơi cư trú cố định trước đó của họ như một điều kiện để được nhận trợ cấp. Mục đích là để ngăn các gia đình và những người lao động chân tay di cư nhiều hơn vào các thành phố tìm việc làm. Năm 1697, một luật đã được thông qua cho phép những người nhập cư được di chuyển đến nước Anh chỉ khi họ nhận được một giấy chứng nhận cư trú từ các nhà chức trác ở địa điểm cư trú mới của họ. Mặc dù các luật này không khuyến khích di cư đối với các gia đình và những người yếu đuối, nhưng những người trẻ, khỏe mạnh, có tham vọng và chưa lập gia đình lại nghĩ ra những cách trở lại các thành phố. Họ cũng là những người sẽ trở thành chủ doanh nghiệp thành công – hoặc nhà cách mạng mãnh liệt.

Hầu hết những người nhập cư đã không kiếm được việc làm như họ kỳ vọng. Những quy định hạn chế, đặc biệt là những khó khăn trong nhận được giấy phép để mở rộng hay đa dạng hóa hoạt động, đã hạn chế các doanh nghiệp chính thức tăng trưởng và tạo công ăn việc làm cho những người lao động chân tay mới. Một số kiếm việc làm tạm thời hoặc vào làm công việc nội trợ. Nhiều người buộc phải định cư tạm thời ở các vùng ven của các thành phố châu âu, ở “ngoại ô”, những vùng định cư ngoài pháp luật của thời ấy, chờ đợi được kết nạp vào phường hội hoặc kiếm một việc làm trong một cơ sở kinh doanh hợp pháp.

Không thể tránh khỏi tình trạng rối loạn xã hội. Dòng di cư vào các thành phố bắt đầu ngay khi các định chế chính trị hiện tại không theo kịp thực tế thay đổi một cách nhanh chóng. Sự cứng nhắc của luật và tập quán trọng thương đã ngăn cản những người di cư thực hiện đầy đủ tiềm năng kinh tế của họ. Sự chen chúc của dân cư đô thị ngày càng tăng, bệnh tật và những khó khăn không thể tránh khỏi của người dân thôn quê trong việc thích ứng với cuộc sống thành thị đã làm trầm trọng thêm mâu thuẫn xã hội. D.C. Coleman quan sát thấy rằng ngay vào thế kỷ XVI đã có những kêu ca trong Quốc hội Anh về “nhiều loại ăn mày” và sự gia tăng nhiều “kẻ lừa đảo, lang thang, và trộm cắp” ở các thành phố.

Thay vì thích ứng với sự thực đô thị này, các chính phủ đã tạo ra nhiều luật và quy chế hơn để thử dẹp bỏ nó. Càng nhiều quy chế thì gây ra càng nhiều vi phạm – các luật mới được thông qua ngay để truy tố những người vi phạm các luật cũ. Các vụ kiện cáo tràn lan; buôn lậu và làm giả phổ biến. Các chính phủ đã phải sử dụng đến các biện pháp đàn áp hung bạo.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hernando de Soto – Bí ẩn của vốn – NXB CTQG 2016.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s