4.9/ Các cơ quan nghiên cứu đầu ngành của Trung Quốc

Nhìn vào nguồn dữ liệu xuất bản của Trung Quốc ta thấy, 18 cơ quan nghiên cứu của Trung Quốc đã thể hiện năng lực nghiên cứu mạnh mẽ của mình trong lĩnh vực khoa học xã hội. Mỗi cơ quan xuất bản khoảng 50 và nhiều hơn lượng ấn phẩm xuất bản trong thời kỳ 1996 – 2007. Tính tổng 18 cơ quan này đã đóng góp 13,256 bài báo, chiếm 45,27% tổng lượng ấn phẩm xuất bản của Trung Quốc trên lĩnh vực khoa học xã hội. Mỗi cơ quan xuất bản từ 74 đến 3076 ấn phẩm trong thời kỳ 1996 – 2007, với tỉ lệ trung bình mỗi cơ quan là 730,6 ấn phẩm xuất bản. Chỉ có 6 cơ quan đóng góp lượng ấn phẩm vượt mức trung bình trên. Tỉ lệ đóng góp của tất cả các cơ quan trong thời kỳ 1996 – 1998 và tiếp tục duy trì với tỉ lệ 40,30% trong thời kỳ 2005 – 2007. Tốc độ tăng trưởng xuất bản của 18 cơ quan trên là 635,92% trong 9 năm từ 1996 – 1998 đến 2005 – 2007. Chỉ có 8 cơ quan có tốc độ tăng trưởng cao hơn mức trung bình trên. Tỉ lệ trích dẫn trung bình mà mỗi bài báo của các cơ quan trên nhận được là 1,70 lần. 7 trong tổng số 18 có tỉ lệ trích dẫn cao hơn mức trung bình trên (Bảng 11).

20170116-103652_p16-1

20170116-103652_p17-1

4.10/ Các cơ quan nghiên cứu đầu ngành của Brazil

17 cơ quan nghiên cứu của Brazil được cho là có năng lực cao trong nghiên cứu khoa học xã hội. Mỗi cơ quan đóng góp từ 53 đến 1523 ấn phẩm xuất bản, với tỉ lệ trung bình là 265 ấn phẩm xuất bản cho mỗi cơ quan. Chỉ có 5 cơ quan có lượng bài báo phát hành vượt mức trung bình trên. Tổng cộng 17 cơ quan trên đóng góp 4507 bài báo, chiếm 69,64 tổng lượng ấn phẩm xuất bản của quốc gia này trên lĩnh vực khoa học xã hội trong thời kỳ 1996 – 2007. Tỉ lệ đóng góp của 17 cơ quan này trong thời kỳ 1996 – 1998 là 60,45% và tăng lên 77,63% trong thời kỳ 2005 – 2007. Tốc độ tăng trưởng xuất bản trung bình của 17 cơ quan trong 9 năm từ 1996 – 1998 đến 2005 – 2007 là 489,33%. Chỉ có 7 cơ quan của Brazil có tốc độ tăng turởng cao hơn mức trung bình trên. Tỉ lệ trích dẫn trung bình mà mỗi bài báo của các cơ quan trên nhận được là 1,83 lần. Tuy nhiên, chỉ có 6 trong tổng số 17 cơ quan trên có tỉ lệ trích dẫn trung b2inh cao hơn mức trên (Bảng 12).

20170116-103652_p18-1

20170116-103652_p19-1

5/ Kết luận

Việc phân tích các tài liệu xuất bản của Ấn Độ, Trng Quốc, và Brazil trong thời kỳ 1996 – 2007 cho thấy những quốc gia dẫn đầu trong các nền kinh tế đang phát triển đang trong thời kỳ tăng trưởng xuất bản; các ấn phảm xuất bản của họ trong lĩnh vực khoa học xã hội tăng trưởng với những tỉ lệ khác nhau. Tỉ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm của Ấn Độ là 10,9%, Trung Quốc là 36,75% và Brazil là 24,79%. Tỉ lệ ấn phẩm xuất bản trong lĩnh vực khoa học xã hội của Trung Quốc trên thế giới là 2,16%, Ấn Độ là 1% và Brazil là 0,48%. Ấn Độ đứng sau Trung Quốc về năng lực xuất bản và tốc độ tăng trưởng xuất bản ấn phẩm trong lĩnh vực khoa học xã hội. Điều này có liên quan đến các nhà thực thi và hoạch định chính sách. Ba nền kinh tế cũng có sự khác nhau về tỉ lệ trích dẫn của từng bài báo – Nguồn chỉ dẫn đã từng được sử dụng để đo lường và so sánh chất lượng các kết quả nghiên cứu khoa học. Brazil có tỉ lệ trung bình là một bài báo nhận được 1,66 lần trích dẫn; Trung Quốc là 0,52 và Ấn Độ là 0,82. Thật ngạc nhiên khi Brazil đạt được tỉ lệ trích dẫn trên mỗi bài báo cao nhất trong số ba nước trên, mặc dù tỉ lệ các ấn phẩm xuất bản của nước này trên thế giới là thấp nhất (0,48%) so với Ấn Độ là 1,01% và Trung Quốc là 2,16%. Điều này chứng minh rằng chỉ đơn thuần có năng suất cao trong xuất bản thì vẫn chưa phải là chỉ dẫn cần thiết của chất lượng và sự hoàn hảo trong nghiên cứu. Brazil đứng trên Ấn Độ và Trung Quốc trong việc hợp tác nghiên cứu. Hơn thế nữa, nguồn tài liệu được phân tích đã chỉ ra năng lực hợp tác nghiên cứu của ba nền kinh tế trên, đặc biệt, Ấn Độ vẫn là quốc gia có năng lực yếu và thiếu động lực. Những quốc gia trên không có sự thay đổi đáng kể nào trong hợp tác xuất bản các ấn phẩm khoa học. Ấn Độ đã thể hiện sự phát triển hạn chế với 1,5% trong 9 năm từ 1996 – 1998 đến 2005 – 2007, trái lại, Trung Quốc và Brazil đã có sự suy giảm từ 7% đến 10%. Mỹ và Anh là những đối tác chính trong hợp tác nghiên cứu khoa học của ba nước trên với tỉ lệ từ 56% đến 66% trong tổng số các ấn phẩm hợp tác nghiên cứu quốc tế của từng nước. Trong khi đó, sự liên kết trong nghiên cứu của ba nước trên với những quốc gia khác là yếu, chỉ từ 1% – 6%.

Hiện tại, năng lực nghiên cứu khoa học xã hội của Ấn Độ chỉ giới hạn trong 19 cơ quan nghiên cứu chủ yếu, ngay cả khi quốc gia này chi phí nhiều hơn 6 tỉ rupee mỗi năm trong nghiên cứu khoa học xã hội và điều hành trên 400 cơ quan, tổ chức nghiên cứu. Điều này chứng tỏ rằng chúng ta không khai thác hết tiềm năng vốn có trong nghiên cứu khoa học xã hội. Nếu Ấn Độ phải tạo ra bước nhảy vọt về tỉ trọng và thứ hạng, nằm trong số 5 quốc gia đứng đầu thế giới về năng lực nghiên cứu khoa học xã hội thì cần phải khai thác hết các tiềm năng nghiên cứu của các cơ quan, tổ chức trong cả nước và đưa nó sánh ngang với những quốc gia hàng đầu thế giới trong nghiên cứu khoa học xã hội như Mỹ, Anh và Canada.

Người dịch: Nguyễn Kim Tôn

Nguồn: B.M. Gupta, UgrasenSingh & S.M. Dhawan, Social Science Research in India, China and Brazil – A comparative Stud, DESIDOC Journal of Library & Information Technology, Vol. 29, No. 2, March 2009, pp 15 – 23 # 2009

TN 2013 – 80, 81 & 82

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s