+ Bạn nghĩ gì về ván cờ lâu dài của Trung Quốc ở Biển Đông, và Mỹ có thể làm gì hơn nữa để đảm bảo quyền tự do hàng hải ở khu vực này trong tương lai?

Amy Searight: Khi Trung Quốc ngày càng có những hành động quyết đoán tại Biển Đông – xây dựng các đảo nhân tạo và biến chúng thành những tiền đồn quân sự, đe dọa các nước láng giềng và quấy rối tàu thuyền Mỹ – một điều trở nên khá rõ ràng đó là tham vọng từ lâu của Bắc Kinh hòng kiểm soát Biển Đông. Việc kiểm soát tuyến hàng hải huyết mạch và các cấu trúc địa hình ở Biển Đông sẽ giành được các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụ nhu cầu sử dụng của riêng Trung Quốc, đồng thời cung cấp an ninh cho các cách tiếp cận hàng hải đối với nước này, giúp Trung Quốc có thể ngăn cản sự tiếp cận của các lực lượng đối địch trong trường hợp xảy ra xung đột. Động thái này cũng sẽ tiến một bước dài tiến tới khôi phục một trật tự khu vực do Trung Quốc đóng vai trò trung tâm, đặc điểm dễ nhận thấy trong trí tưởng tượng của người Trung Quốc, cũng như góp phần duy trì tính hợp pháp của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Dù Trung Quốc không thể ngăn cản tự do hàng hải thương mại quốc tế trong thời bình, song những thách thức mà nước này đặt ra đối với tự do hàng hải và hàng không quân sự, cùng với đó là nỗ lực của Bắc Kinh thực thi quyền tài phán đối với các khu vực tranh chấp, sẽ tiếp tục và có thể còn gia tăng một khi năng lực của nước này lớn mạnh hơn. Các chính sách gần đây của Mỹ, bao gồm việc tiến hành các hoạt động hiện diện thường xuyên và các hoạt động trong khuôn khổ Chương trình Tự do Hàng hải, có lẽ là đủ để đảm bảo quyền tự do hàng hải của Mỹ trong thời bình. Vấn đề quan trọng là duy trì được điều này và thể hiện được sự quyết tâm. Ví dụ, Các chiến dịch Tự do Hàng hải (FONOP) nên được tiến hành một cách đều đặn, thách thức các tuyên bố chủ quyền thái quá của cả Trung Quốc và các bên tuyên bố chủ quyền khác. FONOP không nên được tiến hành “lúc bổng, lúc trầm” phụ thuộc vào những toan tính chính trị, mà nên được vận dụng nhằm thiết lập một kênh truyền đạt thông tin chuẩn về sự phản đối của Mỹ đối với các tuyên bố chủ quyền thái quá và quyết tâm của Washington thực thi đầy đủ các quyền và quyền tự do hàng hải. Việc đảm bảo hoạt động tự do hàng hải của Mỹ ở Biển Đông trong trường hợp xảy ra xung đột sẽ ngày một khó khăn do năng lực quân sự của Trung Quốc đang tăng lên. Duy trì khả năng răn đe bằng cách đưa vào các năng lực tối tân của Mỹ, phát triển các khái niệm tác chiến mới, đồng thời đảm bảo sự hiện diện của Mỹ với tư thế một lực lượng mạnh và có thể chống đỡ, sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với việc ngăn chặn xung đột và tránh được một cuộc chiến “hao tiền tốn của” nhằm giành lại quyền tiếp cận Biển Đông.

Victor Cha: Một học giả mới đây viết rằng BIển Đông đối với Trung Quốc giống như biển Carribbean đối với một nước Mỹ non trẻ 2 thế kỷ trước. Chiến lược khẩn cấp của Mỹ là loại bỏ mọi cường quốc châu Âu khỏi các vùng biển xung quanh. Có lẽ đó cũng là điều Trung Quốc đang nghĩ về Biển Đông. Tuy nhiên, thời điểm là khác nhau. Giá trị thương mại của đồng USD chảy qua các vùng biển này là vô cùng lớn. Và các quốc gia trong khu vực không thoải mái trước tình trạng bị các tàu Trung Quốc quấy rối hoặc việc Trung Quốc tuyên bố lập Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) ở Biển Đông. Thế “tiến thoái lưỡng nan” đối với Mỹ là làm thế nào để ngăn chặn Trung Quốc tiếp tục xây dựng và cải tạo đất đá ở Biển Đông khi các đá, đá ngầm và đảo ở vùng biển này không thể được nhìn nhận là lợi ích quốc gia của Mỹ. Xây dựng năng lực cho các quốc gia nhỏ hơn trong khu vực có ý nghĩa quan trọng, song có lẽ quan trọng nhất là Trung Quốc và khu vực chứng kiến sự hiện diện của Mỹ tại đây. Điều đó đồng nghĩa với việc các hoạt động hải quân và FONOP sẽ diễn ra với nhịp độ thường xuyên, mà không cần thiết phải phô trương hay cần tình huống nào đó. Kín đáo nhưng thận trọng thể hiện khả năng của Hải quân Mỹ là cách tốt nhất để thực hiện điều này.

Christopher K. Johnson: Trong nhiều trường hợp, quá dễ dàng để Mỹ tập trung vào các diễn biến mới trên một hòn đảo hay thực thể đất đá cụ thể và không nhận ra rằng tất cả những diễn biến này nên được nhìn nhận trong bối cảnh của một chiến lược biển toàn diện mà Trung Quốc đã thẳng thắn phát đi tín hiệu rằng nước này sẽ thực thi kể từ Đại hội toàn quốc lần thứ 18 của Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 2012. Sự chuyển hướng của Trung Quốc trở nên quyết đoán hơn trong tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông dường như bắt nguồn từ hai động cơ chính, một mang tính chiến thuật và một mang tính chiến lược hơn. Về chiến thuật, sự tích cực của Bắc Kinh phản ánh đánh giá của Trung Quốc rằng nước này đã để mất cơ sở vững chắc trước các đối thủ tuyên bố chủ quyền trong một quãng thời gian dài (1996 – 2008). Trung Quốc bối rối xử lý những căng thẳng leo thang giữa hai bờ Eo biển Đài Loan. Mở rộng hơn, các tiếp cận của Trung Quốc phản ánh sự quan tâm của nước này trong việc phát triển chiều sâu chiến lược hàng hải hơn trong bối cảnh các lợi ích của Trung Quốc đang phát triển ra ngoài phạm vi bờ biển nước này. Về hiệu quả, Trung Quốc coi những hoạt động của mình ở Biển Đông là một phần nỗ lực phát đi tín hiệu tới các nước láng giềng, và cả Mỹ, rằng các lực lượng của Trung Quốc có ý định hoạt động vào những thời điểm mà họ lựa chọn, và có lẽ bên ngoài chuỗi đảo thứ 2 và xa hơn nữa là khu vực Tây Thái Bình Dương.

+ Liệu Trung Quốc là một đồng minh đáng tin cậy trong mong muốn của Mỹ khuyến khích một nước Triều Tiên có thể dự đoán và ổn định hay không? Lực đòn bẩy nào Trung Quốc thật sự đang giữ đối với Triều Tiên và trong những hàon cảnh nào thì họ sẽ sẵn sàng sử dụng nó?

Victor Cha: Với bất kỳ tham số nào, tương lai của Trung Quốc trên Bán đảo Triều Tiên là với Hàn Quốc, chứ không phải với Triều Tiên. Hoạt động kinh tế hàng năm của Trung Quốc với Hàn Quốc lớn hơn khoảng 200 lần so với Triều Tiên. Dù Trung Quốc có nhiều lợi ích kinh tế và ch1inh trị từ mối quan hệ với một nền dân chủ công nghiệp hóa tiên tiến tại Hàn Quốc, song Bắc Kinh cũng “ném tiền qua cửa sổ” vào việc hỗ trợ chế độ đồng bóng Kim ở Triều Tiên. Không ít người đã nhiều lần hy vọng rằng Trung Quốc sẽ chọn rút bỏ gánh nặng trên vai này, song cộng đồng quốc tế cũng ngần ấy lần thất vọng. Mỹ nên tiếp tục gây sức ép, thuyết phục và hối thúc Trung Quốc thể hiện một lập trường có trách nhiệm hơn trong mối quan hệ của nước này với Triều Tiên, nhưng Mỹ đồng thời cũng không nên phó mặc chính sách vốn là mối đe dọa nghiêm trọng tới an ninh quốc gia của Mỹ này cho một cường quốc cạnh tranh lớn.

Christopher K. Johnson: Sẽ là sai lầm nếu xem Trung Quốc là đồng minh trong nỗ lực đối phó với Triều Tiên. Trung Quốc có thể là một đối tác, một đối tác khá hiệu quả của Mỹ trong một số lĩnh vực nơi lợi ích của hai bên trên Bán đảo Triều Tiên trùng khớp. Tuy nhiên, sự thật vẫn là sự thật. Dù Trung Quốc có nắm trong tay lực đòn bẩy tuyệt vời đối với Bình Nhưỡng trong các lĩnh vực như lương thực, năng lượng và viện trợ, thì Bắc Kinh vẫn chưa sẵn sàng sử dụng lực đòn bẩy này. Lo sợ của người Trung Quốc về một sự sụp đổ chế độ tại Bình Nhưỡng, điều sẽ tạo ra làn sóng người tị nạn tràn vào miền Đông Bắc Trung Quốc, và những quan niệm được cho là lỗi thời về giá trị chiến lược của Triều Tiên như là một “vùng đệm” trước mối đe dọa từ các lực lượng Mỹ ở Hàn Quốc, dường như đang khiến Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc không nhận ra rằng những tiến bộ của Bình Nhưỡng trong chương trình tên lửa đạn đạo và hạt nhân đang ảnh hưởng như thế nào tới nhu cầu chiến lược của Mỹ buộc Triều Tiên phải thay đổi. Trên thực tế, việc giới lãnh đạo Trung Quốc không sẵn lòng gây sức ép đối với đồng minh xưa cũ này một phần có lẽ bắt nguồn từ việc không hiểu rõ bản chất của điều thật sự đang diễn ra bên trong Chính quyền Kim. Như vậy, Washington có lẽ phải dựa vào các biện pháp đơn phương để xử lý vấn đề hạt nhân Triều Tiên.

+ Theo ông, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình muốn được nhớ tới như thế nào? Đâu là những di sản của ông ấy? Ông có cho rằng quan điểm của Tập Cận Bình về “sự lãnh đạo của Mỹ” giống người Mỹ?

Christopher K. Johnson: Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình khá dứt khoát trong việc đề ra các mục tiêu hàng đầu cho nhiệm kỳ của ông ấy. Các khái niệm như là “Giấc mộng Trung Hoa”, “sự hồi sinh vĩ đại của dân tộc Trung Hoa” và “các mục tiêu hai thế kỷ” có vẻ như là những khẩu hiệu Marxist trong mắt thế giới phương Tây, song do đây là ngôn từ được ông Tập Cận Bình lựa chọn để truyền tải tới các đồng sự trong Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, người Mỹ đã liều lĩnh gạt bỏ nó. Sự đổi mới của ông Tập Cận Bình với những khái niệm này chính là lập luận của ông cho rằng tập hợp tất cả những thành tố cơ bản trong nghệ thuật lãnh đạo của Trung Quốc là hiện thực hóa một tương lai vào thời điểm Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) đến năm 2049 có ý định khôi phục vị thế vượt trội trong khu vực. Không giống các cương lĩnh chính sách của các chính đảng phương Tây, nơi hầu như không có mục tiêu tuyên bố nào cuối cùng sẽ được hoàn thành, Đảng Cộng sản Trung Quốc coi những tuyên bố chính thức của mình là các tiêu chuẩn chiến lược cần phải đạt được nhằm thúc đẩy và duy trì tính hợp pháp của một chế độ độc đảng. Như vậy, Mỹ có thể chứng kiến Tập Cận Bình sẵn sàng tun vốn chính trị, cả ở trong nước lẫn trên trường quốc tế, nhằm cố gắng đạt được các mục tiêu của mình.

Về vấn đề “vai trò lãnh đạo của Mỹ”, dù trong khu vực hay trên phạm vi toàn cầu, Tập Cận Bình coi sức mạnh của Mỹ là một sự kìm hãm nhỏ hơn đối với việc thực thi ảnh hưởng của Bắc Kinh so với các nhà lãnh đạo trước đây. Trên thực tế, các mối quan hệ với Mỹ, vẫn xứng đáng có một cấp bậc cao trong hệ thống các mối quan hệ đối ngoại của Bắc Kinh, dường như ít gây lo lắng cho Chủ tịch Tập Cận Bình hơn so với các nhà lãnh đạo tiền nhiệm. Thực tế này không đồng nghĩa với việc ông Tập Cận Bình không khao khát các mối quan hệ ổn định và mạnh mẽ với Mỹ. Thay vào đó, ông Tập Cận Bình có vẻ ưa thích một cách tiếp cận tự nhiên hơn trong vai trò người lãnh đạo không có vẻ nhiệt tình và sức lôi cuốn mạnh mẽ, vốn là những nét tiêu biểu trong chính sách của các nhà lãnh đạo tiền nhiệm như Hồ Cẩm Đào và Giang Trạch Dân. Cái nhìn ít lo sợ hơn về sức mạnh của Mỹ này giúp ông Tập Cận Bình có được sức chịu đựng lớn hơn trước rủi ro và có tác dụng quan trọng là giúp ông có được niềm tin lớn hơn để lôi kéo các đối tác nước ngoài quan trọng khác của Trung Quốc, thay vì chỉ theo đuổi một trọng tâm duy nhất là Mỹ.

(còn tiếp) 

Nguồn: CSIS – tháng 12/2016

TLTKĐB – 6,7,8 & 9/01/2017

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s