Sự nổi lên của tình trạng ngoài pháp luật

Dần dần, những người nhập cư vào châu Âu không tìm được việc làm hợp pháp đã bắt đầu mở các cửa hàng bất hợp pháp ở nhà của mình. Đa số công việc này “bao gồm chế tạo trực tiếp, với thiết bị ít vốn chiếm ưu thế so với các công cụ dùng tay”. Trong thời gian dài, người ở thành phố đã khinh miệt với công việc được tiến hành ở bên ngoài các phường hội và hệ thống công nghiệp chính thống.

Tất nhiên, những người nhập cư không thể có đủ khả năng để lựa chọn: công việc ngoài pháp luật là nguồn thu nhập duy nhất của họ, và khu vực ngoài pháp luật của nền kinh tế bắt đầu lan rộng nhanh chóng. Eli Heckscher trích dẫn bình luận năm 1762 của Oliver Goldsmith: “Hiếm có một người Anh nào không vi phạm một luật nào đó và không bị phạt trong mỗi ngày của đời mình… và không ai ngoài những người ăn hối lộ và vụ lợi cố gắng thực thi chúng”. Hai nghị địnhcủa Pháp (năm 1687 và năm 1693), cũng được Heckscher trích dẫn, công nhận rằng một nguyên nhân mà những quy định kỹ thuật sản xuất lại không được tuân thủ là do các công nhân, khi đó thậm chí còn thất học hơn nhiều so với người lao động ở các nước đang phát triển ngày nay, không đáp ứng được ngay cả đòi hỏi pháp lý đơn giản nhất đến mức các nhà sản xuất vải dệt phải dán tên của họ trên ngực áo. Vậy mà, những người công nhân nhập cư này đã làm việc rất hiệu quả. Adam Smith một lần đã lưu ý, “Nếu bạn muốn công việc của mình được thực hiện ở mức độ khá tốt, nó phải được làm ở các vùng ngoại ô, nơi người lao động không có đặc ân gì, không có gì ngoài dựa vào tính cách, và bạn cũng phải chuyển lậu nó vào thành phố ở mức có thể”.

Các nhà chức trách và các nhà doanh nghiệp hợp pháp đã không bị ấn tượng bởi sự cạnh tranh như Adam Smith. Ở nước Anh, qua các thập kỷ sau khi nền quân chủ được phục hồi năm 1660, một số người theo chủ nghĩa truyền thống bắt đầu ca thán về số lượng ngày càng đông những người bán rong và những người bán hàng trên đường phố, sự náo động xảy ra trước các cửa hàng có uy tín, và sự xuất hiện của những người có cửa hiệu mới ở nhiều thành phố nhỏ. Các nhà buôn chính thức đã cố gắng tuyệt vọng để thoát kỏi những người mới đến. Ở Paris, cuộc chiến pháp lý giữa những thợ may và những người bán quần áo đã cũ kéo dái hơn ba trăm năm. Nó chỉ được chấm dứt bởi cách mạng Pháp.

Những lời mở đầu của các luật và sắc lệnh thời ấy thường dẫn chiếu đến sự từ chối tuân thủ các luật và quy định cũ. Theo Heckscher, vải bông in hoa nhập từ Ấn Độ bị cấm năm 1700 để bảo vệ công nghiệp len của Vương quốc Anh. Các nhà chế tạo Anh đã sản xuất vải in hoa của riêng họ, luôn tìm ra những ngoại lệ hay lỗ hổng của luật. Một cách lách khỏi sự cấm đoán vải bông in hoa là sử dụng vải bông thô – vải bông Anh được làm với bao bì bằng lanh. Tây Ban Nha cũng đã truy tố và trừng phạt các nghiệp chủ ngoài pháp luật. Năm 1549, Hoàng đế Charles Đệ Nhất đã ban bố hai mươi lăm sắc lệnh nhắm vào các doanh nghiệp ngoài pháp luật. Có một luật yêu cầu các nhà chức trách cắt bỏ mép vải chứa dấu hiệu của nhà sản xuất làm cho những người mua biết họ đã mua hàng hóa ngoài pháp luật. Điều này có hàm ý làm bẽ mặt các nhà phân phối.

Sự đàn áp của chính phủ đối với những người ngoài pháp luật là rất lớn, thô bạo, và ở Pháp, gây cả thiệt mạng. Giữa thế kỷ XVIII, luật pháp đã cấm công chúng Pháp sản xuất, nhập khẩu, hoặc bán vải bông in hoa với sự trừng phạt từ lao động khổ sai và tù đày đến hành hình. Những người ngoài pháp luật vẫn không nhụt chí. Heckscher ước lượng rằng vào thế kỷ XVIII, trong một giai đoạn 10 năm người Pháp đã hành hình hơn 16000 người buôn lậu và các nhà sản xuất bí mật hoặc nhập khẩu bất hợp pháp vải in hoa. Thậm chí, một số lớn hơn còn bị kết án khổ sai hoặc bị phạt theo kiểu khác. Riêng ở thành phố Valence, 77 nhà doanh nghiệp ngoài pháp luật đã bị treo cổ, 58 người đã bị tra tấn bẻ xương trên bánh xe và 631 người bị phạt khổ sai. Các nhà chức trách chỉ mủi lòng tha cho duy nhất một người ngoài pháp luật.

Theo Robert Ekelund và Robert Tollison, lý do các nhà chức trách đã truy tố những người ngoài pháp luật thô bạo đến như vậy không chỉ là do họ muốn bảo vệ các ngành đã được thiết lập; mà vải in hoa cũng làm cho việc thu thuế khó khăn hơn. Dù dễ nhận diện các nhà sản xuất các loại vải một màu và như thế xác minh được việc họ đã trả hết thuế chưa, nhưng vải in hoa, do hệ thống in mới, có thể tạo ra các màu đa dạng, làm cho việc xác định xuất xứ của chúng khó khăn hơn nhiều.

Nhà nước dựa chủ yếu vào các phường hội – chức năng chính của chúng là kiểm soát việc tiếp cận đến doanh nghiệp hợp pháp – để giúp xác định những người vi phạm luật. Nhưng bằng cách làm luật nghiêm khắc hơn thay vì điều chỉnh đề cập đến cả những người ngoài pháp luật, các nhà chức trách đã đơn giản đẩy các nhà doanh nghiệp ra vùng ngoại ô ngoài pháp luật. Khi Điều lệ về thợ cả và thợ học việc của nước Anh năm 1563 đã cố định mức lương cho các công nhân và đòi hỏi rằng chúng được điều chỉnh hàng năm  theo giá cả của một số mặt hàng thiết yếu nhất định, nhiều người ngoài pháp luật trước đây đã di chuyển doanh nghiệp của mình ra các thị trấn hẻo lánh hoặc thiết lập những vùng ven đô mới, nơi sự giám sát của nhà nước ít nghiêm ngặt hơn và các quy chế lỏng lẻo hơn hoặc đơn giản không áp dụng được. Rút ra vùng ven đô cũng cho phép những người ngoài pháp luật tránh sự soi mói của các phường hội, mà quyền hạn của chúng chỉ mở rộng đến ranh giới của thành phố.

Cuối cùng, sự cạnh tranh ngoài pháp luật đã tăng lên đến mức chủ sở hữu các doanh nghiệp chính thức không còn có lựa chọn khả dĩ nào khác ngoài việc để cho các xưởng ở ngoại ô thầu lại một phần sản xuất của họ – làm hẹp cơ sở thu thuế và gây áp lực tăng thuế. Một vòng luẩn quẩn hình thành: thuế cao hơn làm trầm trọng thêm nạn thất nghiệp và tình trạng rối loạn, thúc đẩy di cư đến ngoại ô lớn hơn và nhiều đơn thầu phụ cho các nhà sản xuất ngoài pháp luật. Một số người ngoài pháp luật đã thành công đến mức họ có quyền tham gia kinh doanh chính thức – mặc dù không phải đút lót và gây áp lực chính trị.

Các phường hội đã phản công. Dưới triều đại Tudor, rất nhiều luật ở Anh đã cấm các xưởng và các dịch vụ ngoài pháp luật ở các vùng ngoại ô. Nhưng rất đông những người ngoài pháp luật và kỹ năng tránh phát hiện của họ đã phá vỡ các nỗ lực này. Trong những thất bại nổi bật nhất là các phường hội sản xuất mũ và ga trải giường ở Norwick, sau một chiến dịch kéo dài và được quáng cáo rùm beng để chống lại những người hoạt động ngoài pháp luật, các phường hội đã không có khả năng thực thi độc quyền hợp pháp của họ trong sản xuất mũ và ga trải giường. Sự cạnh tranh đã làm các phường hội lao đao. Coleman quy sự sa sút của họ cho việc “tăng cung lao động, thay đổi hình mẫu của cầu, và mở rộng thương mại; [và] sự tăng trưởng của các ngành công nghiệp mới và sự mở rộng đáng kể của công nghiệp nông thôn ngoài hệ thống”.

Phá vỡ trật tự cũ

Các chính phủ châu Âu đã dần dần buộc phải rút lui trước sự tăng lên của khu vực ngoài pháp luật – như chính phủ trong các nước đang phát triển và xã hội chủ nghĩa trước đây đang làm ngày nay. Ở Thụy Điển, nơi không có khả năng chấm dứt việc thiết lập các khu định cư ngoài pháp luật. Đức Vua Gustavus Adolphus đã phải đi thăm từng khu định cư và ban phước lành cho dân chúng để duy trì vẻ bề ngoài sự kiểm soát của chính phủ. Ở nước Anh, nhà nước đã buộc phải thừa nhận các ngành công nghiệp mới được phát triển chủ yếu ở các nơi không có các phường hội hoặc những hạn chế pháp lý; thật vậy, những người ngoài pháp luật đã tạo ra những vùng ngoại ô và các thị trấn của riêng họ để tránh sự kiểm soát của nhà nước và của các phường hội. Hơn thế, các ngành công nghiệp ngoài pháp luật hoạt động hiệu quả và thành công hơn. Người ta công nhận rộng rãi rằng, công nghiệp dệt vải bông hưng thịnh bởi vì nó đã không bị điều tiết một cách nghiêm ngặt như ngành len. Người dân sớm để ý thấy rằng các khu vực định cư ngoài pháp luật đang sản xuất các hàng hóa và dịch vụ tốt hơn so với những đối thủ cạnh tranh nằm bên trong lồng kính. Năm 1588, một báo cáo gửi ngài Cecil, Bộ trưởng của Nữ hoàng Elizabeth Đệ Nhất, mô tả các công dân của Halifax, một trong những khu định cư mới ngoài pháp luật.

Họ trội hơn những người khác về chính sách và công nghiệp, để sử dụng thương mại và mặt bằng đất của họ và, sau cách cư xử thô lỗ, kiêu căng của xứ sở hoang dã của họ, họ vượt những người còn lại về sự uyên thâm và sự giàu có. Họ xem thường các kiểu cách cũ kỹ của ọ nếu họ nghe thấy một cái mới, tiện lợi hơn, thích dùng các thứ mới hơn là liên kết với những nghi thức cũ… Họ có một sự hăng hái tự nhiên với những sáng chế mới gắn với tính chăm chỉ của họ.

Những người ngoài pháp luật cũng bắt đầu xây dựng trong phạm vi các thành phố. Ở Đức, nơi phải trải qua một cuộc sát hạch để nhận được sự phê chuẩn pháp lý mới có thể xây dựng, theo một sử gia, “có thể thấy hầu hết các quận trong đó rất nhiều nhà đang được xây cất, mặc dù không có ai ở trong quận có tư cách hợp pháp để xây chúng”.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hernando de Soto – Bí ẩn của vốn – NXB CTQG 2016.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s