Vấn đề biểu tượng cho cả sự tiếp tục tồn tại của hệ thống xã hội chủ nghĩa lẫn những mất cân đối do các cải cách gây ra chắc chắn là vấn đề nợ chéo. Cuộc khủng hoảng tài chính trầm trọng này, trong một số trường hợp, làm rung rinh và tê liệt từng mảng lớn của nền công nghiệp được thể hiện qua việc các doanh nghiệp ngừng trả nợ. Các doanh nghiệp mắc phải căn bệnh mãn tính là khan hiếm vốn lưu động và sa vào tình thế không thanh toán được cho những khách hàng thanh toán cho mình. Những doanh nghiệp này kéo theo chúng một số ngày càng lớn những doanh nghiệp mất khả năng chi trả. Số nợ chéo này năm 1992 thật là lớn. Được ước lượng là hơn 660 tỷ NDT (Qiyejiabao – cơ quan của các nhà kinh doanh – 08.07.91; báo cáo RAMSES 1993), số nợ này chiếm một phần ba tổng số tiền gửi ngân hàng (cộng chung của cả các doanh nghiệp và hộ gia đình), hoặc là bằng tổng vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước và tập thể năm 1989, hoặc là bằng một lần rưỡi tổng số xuất khẩu năm 1989 (Zhonguo Qiye Guanli Nianjian – niên biểu quản lý các doanh nghiệp Trung Quốc – 1990). Vấn đề này dẫn tới một sự rối loạn nghiêm trọng của những trao đổi giữa các doanh nghiệp. Trong khuôn khổ khu vực nhà nước mỗi doanh nghiệp có thể đơn phương quyết định sẽ không trả nợ những khách hàng cung cấp cho mình. Lúc đó Nhà nước thông qua hệ thống ngân hàng, bắt buộc phải trả thay cho những con nợ tồi kia để tránh cho tình trạng mắc nợ khỏi lan rộng. Theo cách đó, người ta ước lượng rằng trong thời gian giữa 1988 và 1991, hệ thống ngân hàng (tức là Nhà nước, nhưng ngoài ngân sách) đã bơm vào quỹ của các doanh nghiệp khoảng 100 tỷ NDT. Tình hình nghiêm trọng đến mức một tiểu ban khủng hoảng, với đặc trách giải quyết vấn đề, đã được thành lập ở Hội đồng Quốc vụ viện. Từ đó, mỗi một bộ, mỗi một tỉnh đều có tiểu ban khủng hoảng của mình. Bản thân các doanh nghiệp cũng đã tự thành lập những nhóm nhỏ chuyên trách với nhiệm vụ thu hồi (dù chỉ một phần) những khoản các khách hàng còn thiếu nợ của mình.

Từ đầu cuộc tiến công cải cách, với chuyến đi của Đặng Tiểu Bình đến tỉnh Quảng Đông tháng 2 năm 1992, người ta không còn phải biện minh trên mạng lưới tuyên truyền cho sự cần thiết phải cải cách nữa; vì vậy vấn đề nợ chéo cũng dần dần nhường chỗ tuy không phải vì thế mà biến mất. Thực tế, là món nợ đó vẫn cứ mãi mãi tự tái sinh vì thiếu những phương thuốc để giải quyết vấn đề tận gốc. Tuy nhiên hiện tượng sẽ lâu và khó giải quyết vì hai lý do thiết yếu. Trước hết là vấn đề thiết lập những điều kiện về tổ chức để giải quyết: quả vậy phải đập tan những bức tường khoanh riêng ra thành từng mảng ngăn cách các bộ và nhất là các tỉnh là cái ngăn cản khả năng một giải pháp toàn bộ. Cuối cùng, khó khăn là ở chỗ những nguyên nhân của vấn đề cắm rễ sâu trong điều kiện vận hành của khu vực nhà nước, thậm chí của cả hệ thống kinh tế nói chung:

+ Thiếu một khung pháp lý về quyền thương mại để quản lý các mối quan hệ giữa các doanh nghiệp;

+ Nạn thiếu vốn lưu động trở thành mãn tính của các doanh nghiệp. Nhà nước có thể đã ra lệnh bắt buộc phải dành từ 10 đến 15% số tiền lãi do các doanh nghiệp giữ lại (Qiucheng) để dùng cho những nhu cầu về vốn lưu động. Nhưng thực tế là một nghiên cứu của ngân hàng nhân dân Trung Quốc được tiến hành ở doanh nghiệp nhà nước thuộc vùng Bắc Kinh đã phát hiện ra rằng mức sử dụng đó là vào khoảng từ 1 đến 2%. Khi các doanh nghiệp có lãi, các nguồn lực đều được dùng để đài thọ cho những hoạt động gắn liền với vai trò xã hội của doanh nghiệp (lương hưu, y tế, nhà ở…), với tiền thưởng cho những người làm công ăn lương và với đầu tư bất động sản;

+ Sự vận hành của hệ thống đầu tư dẫn đến, cũng như trong trường hợp nền kinh tế xã hội chủ nghĩa khác một sự phân tán các nguồn lực đầu tư và sự đánh giá thấp thường xuyên những nhu cầu thật sự về tài chính của các doanh nghiệp. Để hoàn chỉnh dự án của mình, các doanh nghiệp phải đi đến chỗ vay nợ các ngân hàng và/hay của những hình thức kinh doanh kiếm lãi khác.

+ Sự tồn tại dai dẳng của một thứ kỷ luật ngân sách lỏng lẻo tạo nên nạn vô tráh nhiệm và lãng phí thuộc đủ mọi loại. Các khoản đầu tư dẫn tới hậu quả là tạo ra những sản phẩm không đáp ứng những nhu cầu của thị trường và một tình trạng sản xuất thừa trên nhiều thị trường tiêu dùng. Sự suy sụp của các tài khoản tài chính của các doanh nghiệp nhà nước kể từ năm 1988 là hậu quả trực tiếp của một kiểu vận hành như thế.

Bây giờ thì người ta hiểu được rằng sự mắc nợ chéo lẫn nhau và những thành tích tồi của các doanh nghiệp nhà nước thực ra chỉ là toát ra từ một hệ thống kinh tế đã không xét lại một cách triệt để những quy luật xấu xa nhất của mình. Quả vậy người ta nhận thấy sự tồn tại thường xuyên của một số đặc điểm nào đó trong cách vận hành của hệ thống xã hội chủ nghĩa làm cho mọi ý đồ thay đổi triệt để ứng xử của các tác nhân đều trở thành ảo tưởng. Trước hết: đó là bộ máy quan liêu bàn giấy.

1.2/ Tính chất thường xuyên của một sự điều hành quan liêu

Bộ máy quan liêu đã không sửa đổi cách ứng xử can thiệp của nó vào nền kinh tế. Những biện pháp sửa đổi do các cuộc cải cách đề ra là một sự phân bổ lại các quyền ở bên trong bộ máy quan liêu địa phương nhờ đó mà giành lại được những đặc quyền từ chính quyền trung ương trong lĩnh vực giám sát và quản lý của doanh nghiệp nhà nước. Còn quyền tự chủ quyết định của các doanh nghiệp, mục tiêu chính của các cuộc cải cách, vẫn chỉ là lời nói suông.

Thị trường lao động vẫn hầu như là không tồn tại và vẫn nằm dưới sự kiểm soát ngặt nghèo về tư tưởng và vật chất của bộ máy quan liêu. Chế độ bát cơm sắt – công việc làm suốt đời với những chu cấp xã hội ở mức tối thiểu, bổ nhiệm bằng con đường hành chính đối với những thanh niên mới tốt nghiệp – vẫn luôn luôn được thi hành trong khu vực nhà nước. Những cố gắng nhằm phá vỡ chế độ này, đặc biệt với đạo luật năm 1986 về quyền của các doanh nghiệp được ký hợp đồng có thời hạn nhất định, chỉ có một tác dụng hạn chế. Việc thành lập những Trung tâm trao đổi tài năng để khuyến khích sự cơ động của lao động cũng chịu chung số phận. Có công ăn việc làm trong khu vực nhà nước vẫn tiếp tục được coi là một vấn đề phúc lợi xã hội hơn là được xem xét dưới góc độ sử dụng có hiệu quả một nhân tố sản xuất (Davis, Viogel, 1990, p87). Vì vậy những doanh nghiệp nhà nước, do gặp khó khăn trong vấn đề tìm kiếm nhân lực có đủ trình độ theo yêu cầu, vẫn hay tiếp tục thực hiện việc tích trữ những kỹ sư và cán bộ quản lý của mình (Ma và Sun, 1992, p287).

Về vấn đề đánh thuế tiền lãi của các doanh nghiệp, bộ máy quan liêu đã thực hiện một cách tùy tiện rất nhiều thứ lệ phí và thuế. Thuế đúng ra đã được sử dụng như một công cụ để đánh đồng những khác biệt về khả năng sinh lợi ở bên trong một khu vực và giữa các khu vực với nhau, và để điều chỉnh những tình hình thâm hụt (Kang, 1990). Thực tế đây là một cách đánh thuế tùy nghi thật sự – các tỷ lệ thuế đánh vào tiền lãi (mức thứ nhất trong danh mục chính thức) có thể thay đổi tùy theo các doanh nghiệp và các tỉnh từ 3% đến 66%. Những tỷ lệ đó được quy định trên cơ sở những tương quan mặc cả giữa những doanh nghiệp và bộ máy quan liêu địa phương khi ký kết các hợp đồng khoán. Như vậy, các doanh nghiệp vẫn tiếp tục thương lượng để giành được một khả năng sinh lợi cao nhất sau khi đóng thuế, nhờ vào những thủ đoạn xuyên tạc những giá cả, những thành tích, những khoản trả nợ và lãi tín dụng đã vay để đầu tư. Từ nay bộ máy quan liêu địa phương bị phân vân giữa hai đường: vừa muốn san bằng các tỷ suất lợi nhuận của những đơn vị mà nó kiểm soát, lại vừa muốn cực đại hóa số tiền thuế thu được của mình.

Việc mở rộng quyền tự chu tài chính của các doanh nghiệp đã kèm theo sự căng thẳng của giá cả được đề ra bất lợi cho công nghiệp nặng và các nguyên liệu. Triển vọng thu lãi cao hơn trong ngành công nghiệp nhẹ đã thúc đẩy các tỉnh sử dụng quyền lực tài chính của mình – đặc biệt là quyền kiểm soát đối với các ngân hàng địa phương (Naugthon, 1991, p68) – để hưởng việc bỏ vốn vào công nghiệp nhẹ, và đặc biệt là vào công đoạn cuối của quy trình sản xuất (công đoạn lắp ráp) để thu thuế được nhiều nhất.

Còn các quyết định đầu tư của các doanh nghiệp thì bị trói chặt và quyền bảo lãnh và chuẩn y của bộ máy quan liêu, một mặt, những khả năng tự tài trợ của các doanh nghiệp Nhà nước là rất hạn chế, các doanh nghiệp này, tính trung bình, hình như giữ lại 15% số tiền lãi của họ (Jing Bei, 1991), vai trò xã hội của doanh nghiệp là ưu tiên so với vai trò tài chính, một phần lớn số vốn được dành cho các tập thể công nhân dưới dạng tiền thưởng không có liên quan trực tiếp đến những kết quả của doanh nghiệp (Le, Chow, 1987, p191), và dành cho những quỹ xã hội (Fuli Zhidu) – lương hưu, chi phí y tế, xây dựng nhà ở (Geng, 1991, p5). Như vậy các khoản tài trợ phần lớn là từ tín dụng ngân hàng hoặc những khoản trợ cấp khống của cơ quan hành chính, những khoản này thường thường biến mất. Trên thực tế, chúng vẫn tiếp tuc tồn tại dưới dạng những khoản tín dụng ngân hàng giả và những khoản vốn ngoài ngân sách  đặt dưới quyền kiểm soát của bộ máy quan liệu địa phương và các bộ ở Trung ương.

(còn tiếp) 

Nguồn: Philippe Beraud & Jean-Louis Perrault – Những nhà kinh doanh của thế giới thứ ba – Viện NCQLKTTW 1998.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s