Tâm lý tránh bất định ở chỗ làm

Mùa hè năm 2009, báo chí quốc tế đưa tin về làn sóng tự tử trong đội ngũ nhân viên ở công ty France Telecom, với hơn 100.000 nhân viên – đây là công ty viễn thông lớn nhất của Pháp. Vào ngày 28 tháng 9 năm 2009, một nhân viên 28 tuổi mới vào làm được 18 tháng đã nhảy cầut ự tử vào sáng ngày thứ hai. Làn sóng tự tử được quy kết là do quá trình tái cấu trúc triệt để sau khi tư hữu hóa công ty trước đây vốn là một cơ quan nhà nước độc quyền; nhân viên trước đây vẫn được coi là các công chức đã được thuyên chuyển và thay đổi nhiệm vụ theo nghị quyết của ban quản trị mà không mấy bận tâm đến cảm giác của nhân viên. Trong bảng 6.1, Pháp có chỉ số UAI cao (86, xếp thứ 17 – 22). Áp lực tái cơ cấu vượt quá sức chịu đựng của nạn nhân.

Bên cạnh căng thẳng trong công việc, một thành phần khác trong chỉ số UAI là tỷ lệ nhân viên IBM có ý định gắn bó lâu dài với công ty. Đây không chỉ là hiện tưởng chỉ thấy riêng ở IBM: nếu giả định các yếu tố khác như nhau, thì ở những nước có chỉ số UAI cao hơn có nhiều nhân viên và cán bộ quản lý tìm kiếm công việc lâu dài hơn. Ngoài ra, các nước này (ít nhất là ở châu Âu) có nhiều người thấy khó cân bằng giữa cuộc sống – công việc hợp lý.

Như đã nói ở phần đầu, luật pháp và quy định là những phương thức mà một xã hội sử dụng để ngăn chặn hành vi bất định của người dân. Xã hội tránh bất định có những điều luật chính thức và không chính thức để kiểm soát quyền và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động. Họ cũng có những quy định nội bộ để kiểm soát quy trình làm việc, mặc dù trong trường hợp này khoảng cách quyền lực cũng đóng vai trò quan trọng. Trong trường hợp khoảng cách quyền lực lớn, cán bộ cấp trên sẽ vận dụng quyền lực tuyệt đối để thay thế các quy định nội bộ trong phạm vi nhất định.

Yêu cầu cần phải có quy định, luật lệ trong xã hội với tâm lý tránh rủi ro mạnh mẽ là mang tính cảm tính. Mọi người – ông chủ và nhân viên cũng như công chức và thành viên chính phủ – đã được lập trình từ bé để cảm thấy thoải mái trong môi trường tổ chức. Không nên để sự việc ở trạng thái bấp bênh.

Nhu cầu cảm tính cần có các quy định và luật lệ trong xã hội có tâm lý tránh bất định mạnh mẽ có thể đưa đến sự hình thành các quy định hoặc hành vi định hướng quy định thuần túy chỉ mang tính hình thức, không nhất quán hoặc loạn chức năng. Những nước có tâm lý tránh rủi ro yếu hơn không nhận thấy rằng các quy định không có hiệu quả cũng có thể làm hài lòng nhu cầu cảm tính về một cấu trúc chính thống của người dân ở các xã hội đối lập. Những gì xảy ra trong thực tế không quan trọng. Philippe d’Irbarne đã tiến hành nghiên cứu so sánh nhà máy sản xuất của Pháp, Mỹ và Hà Lan và nhận thấy rằng một số quy trình trong nhà máy ở Pháp  được tuân thủ chặt chẽ, tuy nhiên chỉ sau khi rũ bỏ ý nghĩa thực tế. Ông đã so sánh thực tế này với nhận xét về đế chế cổ ở Pháp (thế kỷ XVIII, triều đại tiền Napoleon): “một quy định nghiêm khắc nhưng được áp dụng theo cách khoan dung”.

Các nước có tâm lý tránh bất định yếu có quan điểm đối lập, cảm thấy khiếp sợ với những quy định trang trọng. Mọi người cho rằng chỉ nên đưa ra các quy định trong trường hợp cần thiết tuyệt đối, chẳng hạn để quy định tham gia giao thông đi theo bên trái hay bên phải. Họ tin rằng có thể giải quyết nhiều vấn đề mà không cần các nghi thức rườm rà. Người Đức xuất thân từ nền văn hóa có tâm lý tránh bất định tương đối cao rất ấn tượng với ý thức công cộng của người Anh trong khi xếp hàng ngay ngắn để đợi xe buýt hoặc trong cửa hàng. Ở Anh không có điều luật này quy định về kỷ luật xếp hàng, mà hoàn toàn dựa trên ý thức công cộng liên tục được củng cố bằng biện pháp kiểm soát xã hội. Điều nghịch lý là các nước có tâm lý tránh bất định yếu hơn thường đưa ra các quy định ít khắt khe hơn song lại được chấp hành tốt hơn.

Hành vi xếp hàng của người Anh xuất phát từ bản chất điềm tĩnh và kiên nhẫn của hầu hết người Anh. Như đã nói ở phần trước, tâm lý tránh bất định thấp cũng có nghĩa là ít lo âu. Tại chỗ làm, yếu tố lo lắng trong tâm lý tránh bất định có thể đưa đến nhiều điểm khác biệt rõ rệt giữa xã hội có tâm lý tránh bất định yếu và mạnh. Trong xã hội có tâm lý tránh bất định mạnh, mọi người thích làm việc, hoặc ít nhất cũng luôn bận rộn. Sống gấp và thời gian là tiền bạc. Trong xã hội có tâm lý tránh bất định thấp, mọi người có khả năng làm việc vất vả và khi thực sự cần, nhưng không xuất phát từ ham muốn bên trong giống như hoạt động cố định thường xuyên. Họ thích thư giãn. Thời gian là khuôn khổ để định hướng bản thân, nhưng không phải là vấn đề được theo dõi thường xuyên.

Trong những năm 1970, qua các khóa học tại Trường Kinh doanh INSEAD ở Fontainebleau (Pháp) giáo sư André Laurent đã tiến hành khảo sát các cán bộ quản lý ở 10 nước công nghiệp về niềm tin của họ đối với công ty. Dưới đây là các câu hỏi có chỉ số trung bình tương quan với chỉ số UAI:

+ Hầu hết các tổ chức sẽ kinh doanh hiệu quả hơn nếu xử lý triệt để vấn đề mâu thuẫn.

+ Các cán bộ quản lý phải luôn có câu trả lời chính xác cho hầu hết câu hỏi mà cấp dưới có thể đưa ra về công việc của họ.

+ Nếu bạn muốn có một người có năng lực làm việc đúng cách, cách tốt nhất là đưa cho họ hướng dẫn cực kỳ chính xác về cách làm việc đó.

+ Khi vai trò của các thành viên trong phòng ban trở nên phức tạp hơn, cần phải có các mô tả nghề nghiệp chi tiết, rất hữu ích trong việc làm rõ các yêu cầu.

+ Cần phải tránh tuyệt đối một cơ cấu tổ chức, trong đó cấp dưới có hai cấp trên giám sát trực tiếp.

Tất cả câu hỏi này đều cho thấy thái độ bất mãn với tình huống mơ hồ và cần phải có sự chuẩn hóa và hợp thức hóa trong tổ chức ở các nước có chỉ số UAI cao. Ở các nước có chỉ số UAI thấp, tình huống mơ hồ và lộn xộn đôi khi được ghi nhận là tạo điều kiện phát huy tính sáng tạo.

Nền văn hóa tránh bất định cũng tin tưởng mạnh mẽ vào đội ngũ chuyên gia trong quy trình làm việc; các công ty thường có nhiều chuyên gia hơn. Những nền văn hóa chấp nhận bất định cũng tin tưởng mạnh mẽ vào lẽ phải và đội ngũ chuyên gia am hiểu, thông thạo; một trong những ví dụ điển hình là người Anh coi việc nghiên cứu văn học cổ điển ở trường đại học là một chiếc vé hợp lệ để bước vào sự nghiệp quản lý kinh doanh.

Chuyên gia Jacques Horovitz người Pháp đã tiến hành nghiên cứu ban quản lý cấp cao trong các công ty của Anh, Pháp, Đức và rút ra kết luận rằng cán bộ quản lý cấp cao ở Anh thường quan tâm nhiều hơn đến những vấn đề mang tính chiến lược, và ít chú tâm hơn đến các hoạt động hàng ngày; ở Pháp và Đức thì hoàn toàn ngược lại. Trong nghiên cứu của IBM, Pháp và Đức có chỉ số UAI cao hơn Anh khá nhiều (86 và 65 so với 35). Những vấn đề chiến lược đòi hỏi khả năng chấp nhận tình huống mập mờ nhiều hơn so với những vấn đề vận hành. Trong thời kỳ Horovitz tiến hành khảo sát, nền kinh tế Pháp và Đức khả quan hơn nền kinh tế Anh, như vậy tâm lý tránh bất định thấp đưa đến nhiều kế hoạch chiến lược hơn song không nhất thiết giúp cải thiện hiệu quả kinh tế. Hoạch định chiến lược ở những nước này phần nhiều là vấn đề niềm tin. Thành công kinh tế của doanh nghiệp và quốc gia còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác.

Chuyên gia nghiên cứu người Mỹ – Scott Shane nhận thấy rằng trong số 33 nước, số lượng thương hiệu mới được trao cho mỗi nước tỷ lệ nghịch với chỉ số UAI. Ông kết luận rằng các nền văn hóa tránh bất định thường đi chậm hơn trong quá trình đổi mới. Shane và các đồng sự cũng nghiên cứu vai trò nhân viên của 4 công ty đa quốc gia ở 30 nước trong các quá trình đổi mới. Ở những nước có tâm lý tránh rủi ro cao hơn, nhân viên thường cảm thấy bị bó buộc bởi những quy định và quy chế hiện hành.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hofstede, Gert Jan Hofstede & Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQG HN 2013.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s