Tất cả những việc chế tạo rất cần thiết cho sự tồn tại của đất nước này là do các chuyên gia cao cấp, làm việc trong các lĩnh vực khoa học và kỹ thuật mới thực hiện. Sau chiến tranh, khi các trường trung học hoạt động ở đỉnh cao, khi làn sóng thanh niên đổ vào các trường đại học và khoa học, khi có sự sùng bái kiến thức, thì số các nhà khoa học trình độ cao còn khá ít. Đòn đánh chủ yếu của các nhà tư tưởng hướng ngay vào họ, với mục đích loại bỏ các chuyên gia hàng đầu trong các lĩnh vực trọng tâm, và kết cục là kìm hãm và ngăn chặn nền kỹ thuật mới.

Phân tích một cách tổng thể cái gọi là cuộc đấu tranh tư tưởng cuối thập niên 40 đầu 50, bất cứ nhà quan sát nào cũng nhận thấy tính kế hoạch rõ ràng trong các hành động. Trong những năm đó đã tiến hành: chiến dịch đánh vào sinh học (chiến dịch “SInh học Mitsurin” hay Lusenko), chiến dịch trung tâm “vật lý học duy tâm”, chiến dịch “điều khiển học”, chiến dịch “học thuyết Pavlov” đánh vào các chuyên gia trong lĩnh vực hoạt động của hệ thần kinh và tâm thần học. Các đòn này được đánh một cách có kế hoạch vào các điểm nút của tiến bộ khoa học kỹ thuật, mà tương lai của đất nước đang phụ thuộc vào đó.

Bây giờ nói về phương pháp hành động của các nhà tư tưởng. Cơ sở của nó là “chủ nghĩa Marx – Lenin”, nhưng không phải là học thuyết Marx tổng thể, mà chỉ là những luận điểm tách riêng từ kinh điển, đã từng được áp dụng vào một tình huống cụ thể, một thời điểm cụ thể. Trích dẫn từ kinh điển đã trở thành thứ vũ khí. Một điểm nổi bật, đó là tính vô nghĩa của các sự chỉ trích. Bản thân khoa học trở nên không tồn tại. Thay vào đó người ta sử dụng các trích dẫn từ kinh điển và lời chửi bới CNTB vô ý nghĩa. Giai đoạn này người ta cũng sử dụng rộng rãi tên tuổi của các nhà khoa học Nga nổi tiếng: Mitsurin, Pavlov, Butlerov, Lobachevski, Sechenov. Timiriazev… dùng họ để đối chọi với “ảnh hưởng suy đồi của phương Tây”. Điểm rất quan trọng – đó là sử dụng các cuộc tranh cãi có sẵn, những mâu thuẫn bị thổi phồng giữa các trường phái. Người ta đánh khoa học chủ yếu thông qua tay những kẻ trung gian, khôn ghiểu biết gì về âm mưu của chiến dịch tư tưởng đang được tiến hành. Tất nhiên, những kẻ chủ mưu của chiến dịch không để lại dấu vết gì, không thể truy tìm được. Tất cả những hành động bề nổi thấy được chỉ là “hoan hô”, “muôn năm”, ca ngợi lãnh tụ (nhiều khi tới mức bất lịch sự).

Nếu như phân tích kỹ lưỡng từng chiến dịch của các nhà tư tưởng, thì có thể thấy rằng chúng có đặc tính đa kế hoạch. Các chiến dịch xét ở bài này dẫn tới hàng loạt các hậu quả:

1/ Phá tan các hướng khoa học, và loại trừ các chuyên gia hàng đầu (và một trong những kết quả có thể là phá việc chế tạo vũ khí nguyên tử, trong khi Mỹ giữ độc quyền hạt nhân).

2/ Kích động các nhà khoa học và trường phái khoa học chống nhau (nhân thể tạo điều kiện cho những kẻ cơ hội thiếu khả năng sáng tạo, làm tan rã và suy yếu hướng khoa học này).

3/ Giáo dục các nhà khoa học và giới trí thức trẻ khinh bỉ chủ nghĩa Marx (các nhà tư tưởng đã nhân danh ông), và triết học nói chung.

4/ Sự lăng mạ các nhà khoa học lớn ở phương Tây (kể cả những người bạn của Liên Xô như Einstein, Dirak, Bernal, Bohr…), kết tội họ là “duy tâm” và nhiều tội khác, đã dựng nên bức tường ngăn cách giữa các nhà khoa học tiến bộ của phương Tây và Liên Xô.

5/ Bôi nhọ các nhà khoa học vĩ đại của nước Nga trước đây qua việc đặt họ làm đối trọng với hoa học hiện đại.

Những gì kể trên cho thấy tính hữu hiệu trong hành động của nhóm các nhà tư tưởng, đã gây thiệt hại to lớn cho đất nước, và tác động vào ý thức xã hội. Chúng ta hãy xem xét cụ thể những thời điểm chính trong hàng loạt các chiến dịch chống phá nền khoa học Xôviết.

Chiến dịch “Sinh học của Mitsurin”

Chiến dịch đầu tiên này nhằm chống lại nền khoa học và tiến bộ khoa học kỹ thuật tại Liên Xô, có nguyên nhân của nó. Các trái bom nguyên tử ném xuống Hiroshima và Nagawsaki đã làm không chỉ hàng trăm nghìn người chết, mà còn gây ra nhiều thứ bệnh khác nhau, kể cả bệnh di truyền. Xuất hiện hàng loạt các vấn đề sinh học và y tế. Sau chiến tranh, Mỹ đang giữ độc quyền về vũ khí hạt nhân, và bất cứ lúc nào cũng có thể ném bom nguyên tử xuống các thành phố Xôviết. Các thí nghiệm sinh học có ý nghĩa to lớn để giảm thiểu hậu quả các vụ nổ hạt nhân, và đóng vai trò quan trọng trong giải quyết vấn đề lương thực. Sự phát triển khoa học sinh học ở Liên Xô đã đạt tới mức đỉnh cao, và trong nhiều hướng nó chiếm vị trí dẫn đầu so với phương Tây. Chỉ cần nhắc tới một số tên tuổi như Vavilov, Koltsov, Smalgauzen, Liubisev, và những người khác. Nhiệm vụ phá hoại các nghiên cứu sinh học, loại bỏ các chuyên gia hàng đầu trong các hướng quyết định có thể thực hiện được với sự giúp đỡ của các nhà tư tưởng “dưới ngọn cờ học thuyết chủ nghĩa Marx – Lenin”.

Hành động chống sinh học chỉ là khúc dạo đầu của việc phá hoại toàn bộ nền khoa học Xôviết. Tổng thể các chiến dịch được dự tính đòi hỏi có sự chuẩn bị kỹ càng. Mọi thứ phụ thuộc vào cú đòn đầu tiên này. Đó sẽ là loạt đạn đầu tiên của loại vũ khí tư tưởng của “đội quân thứ năm” trong cuộc chiến tranh tâm lý.

Việc lựa chọn sinh học để đánh đòn đầu tiên có những nguyên nhân khách quan của nó. Một nguyên nhân liên quan tới tính trừu tượng bề ngoài của môn di truyền học. Di truyền học dựa trên một số lượng lớn các dữ liệu thực nghiệm, nhưng tất cả chúng đều có tính chất gián tiếp. Người ta vẫn chưa biết được vật chất mang mã di truyền. Các công trình vĩ đại của Watson và Krik, trong đó phát hiện dấu hiệu mã di truyền của DNA, đã được công bố muộn hơn vào năm 1953. Nguyên nhân nữa gắn với việc lợi dụng các mâu thuẫn giữa các trường phái khoa học. Với các nhà tư tưởng, ứng viên thuận lợi nhất là “viện sĩ nhân dân” Lưsenko – một người cuồng tín, dù rằng không phải có tài (ban đầu Vavilov cũng ủng hộ ông ta), uy tín được phươgn tiện thông tin đại chúng thổi phồng lên. Các thất bại của Lưsenko được che giấu đi, còn lời hứa và các đề án mới được thổi phồng hết cỡ. Các nghiên cứu mới nhất thường được gắn tên Lưsenko. Nhưgn đó chỉ là con tốt trên bàn cờ. không có Lưsenko thì sẽ có người khác. Thực tế tất cả “lý luận” là do Prezent đứng sau lưng Lưsenko tạo ra.

Điều quan trọng không phải ai làm ra “sinh học Mitsurin”, mà nó được tạo ra như thế nào. Để ngụy trang, chiến dịch lấy tên MItsurin (cũng như các chiến dịch sau lấy tên Butlerov, Pavlov…). Phương pháp luận nghiên cứu các học thuyết khoa học đưa ra là – theo đúng “chủ nghĩa duy vật biện chứng”. Trong từ điển triết học có viết:

Điềm khác biệt quan trọng của sinh học Mitsurin so với những học thuyết khác trước đó là ở chỗ những người sáng lập nó đã chủ động và liên tục áp dụng thế giới quan Marx – Lenin, chủ nghĩa duy vật biện chứng trong khi tìm hiểu và nghiên cứu các quy luật phát triển dạng vật chất hữu cơ. Chưa từng có nhà sinh học nào trước đó sử dụng biện chứng như là phương pháp, hay công cụ nghiên cứu khoa học”.

Trên thực tế có thể phân tích ý kiến này như sau. Có tồn tại bốn quy luật biện chứng của Hegel (chúng được trình bày trong giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô): Quy luật về tác động tương hỗ; quy luật về phát triển; quy luật lượng và chất; quy luật sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập.

Để làm ví dụ, ta hãy xem đoạn trích từ Từ điển Triết học thu gọn.

Học thuyết Mendel là học thuyết siêu hình về sự di truyền. Học thuyết Mendel khẳng định sự đồng nhất và không đổi của các yếu tố (tức là tính chất di truyền) ở đời bố mẹ và con là phủ nhận sự phát triển, và là siêu hình”.

Luận điểm này đưa tới sự mâu thuẫn với qui luận biến chứng về sự phát triển.

Cơ thể trên quan điểm của học thuyết này bao gồm hai phần không gắn với nhau – một là vật chất di truyền bất tử và bất biến, và một là cơ thể bình thường… Dù cơ thể có chịu những sự biến đổi như thế nào, thì chúng cũng không có ý nghĩa gì với thế hệ sau, bởi vì những biến đổi đó không động chạm tới vật chất di truyền bất tử và bất biến”.

Luận điềm này đưa tới sự mâu thuẫn với quy luật biện chứng về tương hỗ.

Theo học thuyết duy vật biện chứng, sinh học Mitsurin đã chứng minh rằng sự phát triển của cơ thể diễn ra trong hai hình thức – hình thức biến đổi về lượng và về chất. Những biến đổi về lượng dần dần tích lũy lại, và dẫn tới sự thay đổi cơ bản về chất. Sinh học Mitsurin phân biệt rõ giữa khái niệm lớn lên và khái niệm phát triển. Trên cơ sở hiểu sự phát triển như là sự chuyển biến của biến đổi về lượng sang biến đổi về chất, sinh học Mitsurin đã đưa ra học thuyết về sự phát triển theo giai đoạn của cơ thể. Học thuyết này cho thấy rằng cơ thể trong quá trình sống riêng của mình sẽ trải qua các bậc khác nhau – giai đoạn”.

Luận điểm này – quy luật biện chứng thứ ba về lượng và chất.

Sinh học Mitsurin chứng minh rằng, các mâu thuẫn dẫn tới sự phát triển của hình thức tổ chức vật chất, đã xuất phát từ mâu thuẫn sự thay đổi chất giữa cơ thể và môi trường, mâu thuẫn của quá trình đồng nhất và khác nhau, hình thành và phá hủy bên trong cơ thể”.

Luận điểm này – quy luật thứ tư về mâu thuẫn.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin tâm lý – TC2 1999.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s