Năm 1946, bài nói chuyện của Kennan được coi là tín hiệu của chiến tranh lạnh. Ông cho rằng, “bức màn sắt” của cộng sản đã được hạ xuống, “đội quân thứ năm” của cộng sản đã rải khắp các nước, “tạo nên thách thức và nguy hiểm ngày càng nghiêm trọng đối với nền văn minh của đạo Cơ Đốc”. Trong bài Nguồn gốc hành động của Liên Xô của Kennan viết năm 1947 chứng minh, theo hệ tư tưởng marxist, Liên Xô tin tưởng sâu sắc rằng chủ nghĩa tư bản có thể bị diệt vong, do vậy hành động của nó cũng giống như nước sông sẽ chảy khắp nơi. Cùng năm đó Truman nói: “Sự sụp đổ của chế độ tự do và mất địa vị độc lập đều là tai nạn chẳng những đối với các nước đó mà còn đối với cả thế giới”. Ở thời kỳ đầu chiến tranh lạnh, quả thực phương Tây lấy việc kiềm chế sự mở rộng của chế độ xã hội chủ nghĩa làm mục tiêu chiến lược chủ yếu nhất của họ, còn các nước xã hội chủ nghĩa cũng coi việc tiêu diệt chủ nghĩa tư bản trên thế giới làm mục tiêu chiến lược đối ngoại của mình. Năm 1947 tại Ba Lan đã tiến hành hội nghị thành lập Cục Thông tin của 9 Đảng Cộng sản và công nhân, hội nghị đã thông qua “Tuyên ngôn về tình hình quốc tế”. Tuyên ngôn chỉ rõ thế giới đã chia làm hai phe lớn đối lập nhau, kêu gọi các Đảng Cộng sản các nước đoàn kết mọi lực lượng, chống các nước đế quốc chủ nghĩa.

Nhưng, sự đối kháng giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội dưới sự chỉ đạo của ý thức tư tưởng được coi là mâu thuẫn chính trị quốc tế chủ yếu không được quán xuyến trong suốt cả thời kỳ lịch sử chiến tranh lạnh. Năm 1970, Trung Quốc và Mỹ xây dựng quan hệ hợp tác chiến lược chứng tỏ, tính chất của mâu thuẫn chính trị quốc tế chủ yếu đã có sự thay đổi. Nghĩa là, mâu thuẫn chính trị quốc tế chủ yếu đã chuyển từ tranh giành giữa hai chế độ thành tranh giành bá quyền giữa Mỹ và Liên Xô. Đương nhiên, sự thay đổi đó không phải là xảy ra trong một năm, sự thay đổi tính chất mâu thuẫn đã có quá trình thay đổi về lượng, việc xây dựng quan hệ chiến lược Trung – Mỹ chỉ là tiêu chí của sự thay đổi về chất của mâu thuẫn chính trị quốc tế chủ yếu.

Trước ngày kết húc chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ và Liên Xô đều có ý muốn bá chủ thế giới, nhưng chính sách bá quyền của hai bên chưa phải là mục tiêu chiến lược đối ngoại của họ. Bá quyền thế giới trở thành mục tiêu chiến lược đối ngoại của họ cũng qua một quá trình thay đổi. Liên Xô lấy bành trướng làm thủ đoạn để thực hiện mục tiêu chiến lược của chủ nghĩa cộng sản trên toàn cầu, Mỹ lấy việc kiềm chế Liên Xô làm sách lược để thực hiện mục tiêu bóp chết chủ nghĩa cộng sản. Cùng với thời gian, thủ đoạn bành trướng của Liên Xô biến thành mục tiêu chiến lược, sách lược kiềm chế Liên Xô của Mỹ trở thành mục tiêu chiến ược, do vậy bá quyền thế giới trở thành mâu thuẫn chiến lược chủ yếu giữa Mỹ và Liên Xô. Có hai nguyên nhân chủ yếu của sự thay đổi mục tiêu chiến lược của Mỹ và Liên Xô, một là sự chia rẽ trong nội bộ hai phe, hai là sự phát triển không đồng đều về thực lực.

Sự chia rẽ nội bộ hai phe làm cho mâu thuẫn về ý thức tư tưởng trở nên mơ hồ. Sau khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai, trên thế giới hình thành nên hai phe lớn, nhưng chẳng bao lâu trong nội bộ hai phe có hiện tượng ly khai. Năm 1948 quan hệ giữa Liên Xô và Nam Tư xấu đi, tháng 6 cùng năm đó Đảng Cộng sản Nam Tư bị khai trừ ra khỏi Cục Thông tin, sau đó trong các Đảng Cộng sản Đông Âu tiến hành thanh trừng “những phần tử Tito”. Năm 1956, Trung Quốc và Liên Xô xảy ra bất đồng về ý thức tư tưởng, về sau bất đồng phát triển thành xung đột lợi ích quốc gia, trong chiến tranh biên giới Trung – Ấn năm 1962, Liên Xô công khai ủng hộ và giúp đỡ nước Ấn Độ tư bản chủ nghĩa. Năm 1969 giữa Trung Quốc và Liên Xô xảy ra xung đột quân sự ở vùng Đông Bắc Á, buộc Trung Quốc và Mỹ phải xây dựng quan hệ hợp tác chiến lược vào năm 1970. Hiện tượng ly khai này không chỉ xảy ra ở phe xã hội chủ nghĩa mà cũng xảy ra cả trong phe tư bản chủ nghĩa ở phương Tây. Năm 1959 Mỹ và Pháp công khai hóa mâu thuẫn xung quanh vấn đề Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương. Pháp từ chối giao 1/3 hạm đội Địa Trung Hải của họ cho khối Bắc Đại Tây Dương chỉ huy và từ chối Mỹ tàng trữ vũ khí hạt nhân trên đất Pháp. Do Pháp kiên trì chính sách ngoại giao độc lập, phát triển lực lượng hạt nhân của mình, cuối cùng Pháp chia tay với các nước trong khối Bắc Đại Tây Dương, năm 1966 rút ra khỏi khối Bắc Đại Tây Dương, cùng năm đó Tổng thống Pháp De Gaulle sang thăm Moksva. Tuyên bố Xô – Pháp nêu rõ “vấn đề của châu Âu” trước hết phải được giải quyết trong phạm vi châu Âu, điều này chứng tỏ hai bên muốn gạt Mỹ ra khỏi châu Âu.

Nếu các nước vừa và nhỏ thay đổi đứng ngoài hai phe chỉ chứng tỏ sự thay đổi về lượng của tính chất mâu thuẫn chính trị quốc tế, nhưng khi quan hệ chiến lược của các nước chủ yếu trên thế giới không còn bị ràng buộc bởi ý thức tư tưởng, thì chứng tỏ tính chất của mâu thuẫn chính trị quốc tế đã có sự thay đổi về chất. Nam Tư tách khỏi phe xã hội chủ nghĩa là sự thay đổi về lượng của mâu thuẫn chính trị quốc tế chủ yếu, còn Trung Quốc và Pháp tách khỏi phe xã hội chủ nghĩa và Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương chứng tỏ tính chất mâu thuẫn chính trị quốc tế chủ yếu đã có sự thay đổi to lớn. Trước hết, sự chạm súng giữa Trung Quốc và Liên Xô đã làm cho tình trạng đối địch giữa các nước xã hội chủ nghĩa không thua kém mức độ đối địch giữa Nhà nước xã hội chủ nghĩa với Nhà nước tư bản chủ nghĩa. Sự thực đó đã phủ định nhận thức lý luận đối lập chế độ xã hội là mâu thuẫn chính trị quốc tế chủ yếu nhất, cũng chứng tỏ bất đồng về ý thức tư tưởng không phải là lợi ích chiến lược quan trọng hàng đầu. Thứ đến, việc xây dựng quan hệ hợp tác chiến lược giữa Trung Quốc và Mỹ và sự gắn bó quan hệ Pháp – Xô làm cho quan hệ chiến lược giữa các nước lớn có chế độ chính trị khác nhau đan xen nhau. Sự đan xen của quan hệ chiến lược này là biểu hiện của sự đan xen lợi ích chiến lược quốc tế. Sự đan xen của quan hệ chiến lược này làm cho sự phân biệt chế độ xã hội không có cách nào phân chia ranh giới bạn thù về mặt chiến lược, điều này chứng tỏ sự bất đồng về ý thức tư tưởng không còn là mâu thuẫn chủ yếu của nền chính trị thế giới nữa.

Khoảng cách thực lực Mỹ – Xô nhanh chóng thu hẹp, tầm quan trọng của mối đe dọa quân sự vượt quá tầm quan trọng của mâu thuẫn ý thức tư tưởng. Từ khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai đến cuối những năm 60, khoảng cách thực lực Mỹ – Xô thu hẹp rất lớn. Theo thống kê của Liên Xô, thu nhập quốc dân của Liên Xô năm 1950 tương đương 31% của Mỹ tăng lên 65% năm 1970, giá trị tổng sản lượng công nghiệp tăng từ 30% lên 80%; còn Mỹ cho rằng, vũ khí hạt nhân chiến lược của Liên Xô năm 1962 bằng khoảng 1/4 của Mỹ, 10 năm sau đã tương đương với Mỹ, nghĩa là Mỹ có 2165, Liên Xô có 2167, ngoài ra Liên Xô còn xây dựng hải quân viễn dương bao gồm một hạm đội tàu ngầm nguyên tử. Năm 1968 sau khi Nixon lên làm Tổng thống ý tưởng chiến lược mới của Mỹ được coi là “chủ nghĩa Nixon”. Năm 1970, Nixon đã đệ trình Quốc hội Mỹ bản báo cáo tình hình nhan đề “Chính sách đối ngoại của Mỹ trong thập niên 70: chiến lược mới tranh thủ hòa bình”, hạt nhân của nó là thừa nhận sức mạnh của Mỹ là có hạn, chính sách của Mỹ đối với Liên Xô cần chuyển từ chiến lược kiềm chế sang chiến lược đe dọa. Từ chiến lược kiềm chế chuyển sang chiến lược đe dọa có hai nội dung: một là Mỹ cho rằng mối đe dọa trực tiếp nhất đối với Mỹ không còn là chế độ cộng sản chủ nghĩa mà là sức mạnh quân sự của Liên Xô, hai là kiềm chế sự bành trướng chính trị của Liên Xô đã hạ xuống mục tiêu chính sách đối ngoại hạng hai, ngăn ngừa việc Liên Xô bành trướng quân sự dẫn đến xung đột quân sự đã trở thành nhiệm vụ cấp bách hàng đầu.

Đồng thời do khoảng cách thực lực với Mỹ thu hẹp, dục vọng làm bá chủ thế giới của Liên Xô tăng lên. Liên Xô cho rằng Mỹ không có ưu thế quân sự vượt Liên Xô, Liên Xô có tiềm lực kinh tế không thể phá hủy, lực lượng quốc phòng phát triển theo hướng có lợi cho Liên Xô. Do Liên Xô áp dụng chiến lược bá quyền có tính tiến công, về chính trị hòa hoãn quan hệ chính trị với các nước phương Tây, giảm thiểu đối kháng về ý thức tư tưởng; về kinh tế, lấy công nghiệp nặng làm trung tâm phát triển kinh tế, tăng cường cơ sở công nghiệp cho năng lực quốc phòng, phục vụ cho công cuộc xây dựng chuẩn bị chiến tranh; về quân sự, thông qua chạy đua vũ trang, giành ưu thế quân sự đối với Mỹ về hai mặt vũ khí hạt nhân và vũ khí thông thường, chuẩn bị tốt cho chiến tranh thế giới và chiến tranh cục bộ.

Để giành bá quyền, Mỹ và Liên Xô không coi trọng bất đồng về ý thức tư tưởng như thời kỳ đầu chiến tranh lạnh. Trong thập niên 70 Liên Xô đã ký kết “Hiệp ước hợp tác hữu nghị” song phương với hơn 10 nước thuộc thế giới thứ ba, thực ra là hiệp ước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt năm 1971 Liên Xô đã ký “Hiệp ước hợp tác hữu nghị” với Ấn Độ – nước được Mỹ coi là quốc gia tư bản chủ nghĩa có dân số đông nhất thế giới. Cũng như Liên Xô, Mỹ cũng không còn đếm xỉa đến mâu thuẫn ý thức tư tưởng, đã viện trợ quân sự cho các nước xã hội chủ nghĩa hoặc có khuynh hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng quan hệ hợp tác chiến lược với các nước xã hội chủ nghĩa để chống Liên Xô. “Tuyên bố Thượng Hải” năm 1972 của Trung Quốc và Mỹ nêu: “Bất cứ bên nào cũng không nên mưu cầu bá quyền ở châu Á – Thái Bình Dương, mỗi bên đều phản đối sự nỗ lực của bất cứ quốc gia hoặc tập đoàn quốc gia nào khác nhằm xây dựng bá quyền đó”.  “Bất cứ quốc gia nào khác” nói ở đây là ám chỉ Liên Xô.

Bắt đầu từ những năm 70 của thế kỷ XX, chủ nghĩa bá quyền của Mỹ và Liên Xô phù hợp ba đặc trưng cơ bản của mâu thuẫn chính trị quốc tế chủ yếu nói trên. 1 – Là hai siêu cường của thời kỳ chiến tranh lạnh, mâu thuẫn bá quyền giữa Mỹ và Liên Xô có tư cách nhất để trở thành mâu thuẫn cường quốc. 2 – Trong thập niên 70 và 80, mâu thuẫn bá quyền quan hệ đến lợi ích chiến lược quan trọng nhất của Mỹ và Liên Xô. Cuộc đấu tranh giành bá quyền này vừa quan hệ đến quyền chủ đạo của họ đối với công việc quốc tế đồng thời cũng quan hệ đến nền an ninh quốc gia của họ, bởi vì trong quá trình giành bá quyền có nguy cơ chiến tranh tương đối lớn. 3 – Mâu thuẫn giành bá quyền của Mỹ và Liên Xô buộc tuyệt đại đa số các nước trên thế giới cần phải chọn ngoại giao giữa họ. Kết quả một cuộc đấu tranh chính trị trong nội bộ các nước vừa và nhỏ và kết quả của cuộc xung đột quân sự với các nước láng giềng đều tùy thuộc ở mức độ ủng hộ quân sự của Mỹ và Liên Xô đối với mỗi phía. Vì sự sinh tồn của chính quyền, tuyệt đại đa số các nước vừa và nhỏ đều rất khó áp dụng lập trường trung lập giữa Mỹ và Liên Xô mà phải lựa chọn một trong hai phía.

(còn tiếp) 

Người dịch: Trần Thanh Hà

Nguồn: TN 2000 – 90 & 91

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s