Tuy nhiên d’Iribarne lại kể một câu chuyện hoàn toàn khác. Đầu những năm 1990, hai hãng sản xuất xe ôtô của châu Âu là Renault của Pháp và Volvo của Thụy Điển đã hợp tác liên doanh. Theo kết quả nghiên cứu của IBM, Pháp có chỉ số UAI cao, trong khi Thụy Điển có chỉ số UAI rất thấp. Một đội gồm kỹ sư và kỹ thuật viên của cả hai nước cùng cộng tác để đưa ra thiết kế kiểu xe mới. Chỉ sau vài năm, liên doanh đã bị giải tán. Các chuyên gia khoa học xã hội của Pháp và Thụy Điển đã phỏng vấn các thành viên để tìm ra nguyên nhân gây ra vấn đề, và có thể rút kinh nghiệm, d’Iribarne đã thuật lại như sau:

Trong cùng một đội, thành viên người Pháp đưa ra thiết kế sáng tạo hơn các thành viên người Thụy Điển. Các thành viên người Pháp không do dự thử nghiệm các ý tưởng mới và bảo vệ ý tưởng của họ đến cùng. Tuy nhiên, thành viên người Thụy Điển luôn tìm kiếm sự đồng thuận. Yêu cầu về sự đồng thuận đã giới hạn ý tưởng của họ có thể đưa ra, thậm chí hạn chế cả ý tưởng mà họ hình thành trong đầu. Đối với người Thụy Điển, trình bày ý tưởng đòi hỏi phải có sự thống nhất giữa mọi thành viên; đối với người Pháp, đó chỉ là vấn đề tìm kiếm chân lý kỹ thuật. Người Pháp chủ yếu quan tâm đến chất lượng của quyết định; người Thụy Điển lại coi trọng sự trang nghiêm trong quá trình đưa ra quyết định. Trong khi thương lượng giữa các thành viên trong đội, người Pháp thường giành phần thắng. Họ được sự ủng hộ của cấp trên người Pháp tham gia từ đầu đến cuối trong khi cấp trên người Thụy Điển giao phó tất cả trách nhiệm cho các thành viên trong đội và không bao giờ xuất hiện. Mối nguy hại của cấu trúc bất cân đối này được phát hiện quá muộn. Các thành viên trong ban quản lý cấp cao của hai bên đã đánh mất lòng tin lẫn nhau, dẫn đến giải thể liên doanh.

Câu chuyện này cho thấy tâm lý tránh bất định mạnh hơn không hẳn sẽ hạn chế khả năng sáng tạo, và cũng chưa chắc tâm lý tránh bất định ít hơn sẽ đảm bảo khả năng sáng tạo tự do. Đối chiếu với kết quả của Shane và d’Iribarne, chúng tôi cũng khuyến cáo rằng các kết quả nghiên cứu xã hội không phải không bị ảnh hưởng bởi quốc tịch của người làm nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu của IBM cũng chỉ ra rằng thái độ chuộng làm việc cho công ty lớn hơn cho công ty nhỏ không chỉ tỷ lệ thuận với chỉ số MAS mà cả chỉ số UAI. Trong văn hóa tổ chức doanh nghiệp, các công ty lớn thường kém sáng tạo hơn các công ty nhỏ, trừ trường hợp họ được ghi nhận là intrapreneur (lãnh đọa có tầm nhìn sáng tạo) mạnh dạn phá bỏ luật lệ. Đây là cách chơi chữ từ entrepreneurs (doanh nghiệp), những người tự khởi nghiệp độc lập mà theo nhận xét của chuyên gia kinh tế học người Áo – Mỹ Joseph Schumpeter (1883 – 1950) đó chính là nguồn sáng tạo chính trong một xã hội.

Các ý tưởng của Schumpeter cũng được đưa vào dự án nghiên cứu Geert cùng tham gia với các đồng nghiệp người Hà Lan. Dự án tìm hiểu những nhân tố kinh tế và văn hóa ảnh hưởng đến tỷ lệ người làm nghề tự do ở 21 nước công nghiệp. Khi so sánh tỷ lệ làm nghề tự do với chỉ số UAI có thể thấy một kết quả đáng ngạc nhiên. Mặc dù mọi người quan niệm rằng ở các nền văn hóa tránh bất định mạnh mẽ có ít người dám mạo hiểm với ngành nghề tự do, tuy nhiên thực tế lại hoàn toàn ngược lại: tỷ lệ người làm nghề tự do luôn tỷ lệ thuận với chỉ số UAI. Một nghiên cứu khác chi tiết hơn cũng chỉ ra một khía cạnh gắn liền với tâm lý tránh bất định mạnh mẽ là nguyên nhân lý giải cho mối tương quan này: mức độ hạnh phúc chủ quan thấp trong xã hội. Vì vậy, nghề tự do là lựa chọn phổ biến ở những nước mà người dân không hài lòng với cuộc sống của họ, không phải ở các nước có khả năng chấp nhận những tình huống chưa biết rõ cao hơn.

Nếu Schumpeter đúng khi kết luận rằng các doanh nghiệp sáng tạo hơn các tổ chức phi kinh doanh, vậy thì chúng ta có cơ sở để kỳ vọng các nước có chỉ số UAI sẽ sáng tạo hơn. Tuy nhiên, sáng tạo đổi mới là khái niệm đa chiều. Có thể các nền văn hóa có tâm lý tránh rủi ro thấp vượt trội hơn trong các sáng tạo cơ bản, tuy nhiên dường như họ gặp khó khăn khi phát triển các ý tưởng đó vào sản phẩm hoặc dịch vụ mới. Triển khai quy trình mới đòi hỏi nhiều chi tiết và độ chính xác tương đối cao. Yêu cầu về độ chính xác thường có khả năng được bảo đảm ở những nước có tâm lý tránh rủi ro mạnh mẽ. Nước Anh giành nhiều giải Nobel hơn Nhật, song Nhật lại có nhiều sản phẩm mới trên thị trường thế giới hơn. Đây là ví dụ hùng hồn cho sự hiệp lực giữa nền văn hóa sáng tạo và nền văn hóa thực thi, một bên cung cấp ý tưởng, một bên triển khai các ý tưởng đó.

Tâm lý tránh bất định, đặc điểm nam tính và nhân tố tạo động lực

Tạo động lực cho nhân viên là mối quan tâm cơ bản của ban quản trị, thậm chí cả người đào tạo đội ngũ quản lý và tác giả viết sách về kỹ năng quản lý. Sự khác biệt trong tâm lý tránh bất định ngầm ám chỉ sự khác biệt trong các thức tạo động lực, tuy nhiên cục diện bức tranh sẽ trở nên sáng tỏ hơn nếu cùng cân nhắc đến phạm trù nam tính – nữ tính. Hình 6 – 1 biểu diễn chỉ số trong hai phạm trù của mỗi nước: tâm lý tránh bất định (trục dọc) và chỉ số nam tính (trục ngang).

 

Hình 6 – 1

 

Lợi ích khi kết hợp chỉ số UAI và MAS để nghiên cứu các cách thức tạo động lực đã được khẳng định trong quá trình so sánh kết quả khảo sát của IBM với công trình của chuyên gia tâm lý học ở Trường đại học Harvard – David McClelland (1917 – 1998) – tác giả cuốn sách kinh điển The Achieving Society xuất bản năm 1961. Trong cuốn sách này, ông đã khai thác các mô hình tạo động lực chính đa dạng ở các nước khác nhau. Ông phân loại 3 kiểu động lực: thành tựu, cộng tác (kết hợp với người khác) và quyền lực. Tác động của từng động lực đối với từng nước được đánh giá bằng cách phân tích nội dung câu chuyện trong sách thiếu nhi. McClelland cho rằng các câu truyện trẻ con được đọc từ lớp 2 đến lớp 4 – những câu chuyện đầu đời – là dành cho các nước hiện đại, trong khi các câu chuyện dân gian là áp dụng cho xã hội truyền thống. Truyện dân gian thường được các chuyên gia nhân học sử dụng nhiều để khơi dây động lực cho nhóm không biết đọc biết viết; McClelland cũng muốn làm lặp lại điều tương tự đối với các quốc gia hiện đại.

Đội nghiên cứu của McClelland đã phân tích truyện thiếu nhi ở nhiều nước trong giai đoạn năm 1925 và năm 1950. Đối với mỗi nước, có 21 câu chuyện được nghiên cứu. Mỗi câu chuyện và mỗi nước được xếp loại nhu cầu về thành tựu, cộng tác và quyền lực. McClelland giả định rằng nhu cầu về thành tựu trong các câu truyện thiếu nhi sẽ cho biết mức độ phát triển kinh tế của một nước trong giai đoạn trưởng thành của lớp trẻ nhỏ này. Nếu xét trên phương diện này, các sự kiện xảy ra sau không chứng minh được giả thuyết của McClelland là đúng. Tuy nhiên so sánh kết quả của McClelland với kết quả của IBM cho thấy mức độ nhu cầu đối với thành tựu được đánh giá trong sách thiếu nhi năm 1925 (các sách cổ hơn) có liên hệ chặt chẽ với tâm lý tránh bất định yếu và thậm chí tương quan chặt chẽ hơn với sự kết hợp giữa tâm lý tránh bất định yếu và chỉ số nam tính cao.

Điều này có nghĩa là kết quả xếp hạng các nước năm 1925 của McClelland trên phương diện nhu cầu đối với thành tựu là một đường chéo trong hình 6 – 1, từ góc phía trên bên phải (nhu cầu thành tựu mạnh mẽ) đến góc dưới bên trái (nhu cầu thành tựu ít hơn). Chỉ số UAI thấp hàm ý thái độ sẵn sàng chấp nhận một số tình huống rủi ro khác lạ và chỉ số MAS cao hàm ý nhấn mạnh đến tầm quan trọng của các kết quả cụ thể. Cả hai yếu tố đều nằm trong hoạt động của doanh nghiệp trong lịch sử Mỹ. Không có gì ngạc nhiên khi Mỹ và các nước Anglo khác trong hình 6 – 1 đều tập trung ở góc phần tư phía trên bên phải với chỉ số UAI thấp, chỉ số MAS cao và nhu cầu thành tựu cao. Khi lựa chọn thành tựu là động lực chính, chuyên gia McClelland đã đẩy phức hợp giá trị tiêu biểu của nhóm Anglo lên thành công thức phổ cập đối với thành công kinh tế. Có lẽ, người Pháp, Thụy Điển hoặc Nhật Bản khó có thể khơi dậy động lực thành tựu trên quy mô thế giới. Thậm chí từ thành tựu cũng khó có thể dịch sang hầu hết các ngôn ngữ khác ngoài tiếng Anh.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hofstede, Gert Jan Hofstede & Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQG HN 2013.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s