Lý thuyết này cũng dẫn đến một cách hiểu mới thuyết kiềm chế ngân sách lỏng lẻo đã được J. Kornai phát triển xuất phát từ một nghiên cứu của M. Csnadi (1987, do Winiechi trích dẫn, 1991, p59): một doanh nghiệp càng có tầm cỡ quan trọng và càng có khả năng phát triển một mạng lưới ảnh hưởng bên trong bộ máy quan liêu thì toàn bộ những hành động và quyết định của doanh nghiệp đó – tài chính, đầu tư, cung cấp, bán, xuất nhập khẩu, càng được tiến hành trong những điều kiện kiềm chế lỏng lẻo.

Cách lập luận này tỏ ra là đặc biệt đáng chú ý và có thể áp dụng với một ít sắc thái linh hoạt nào đó cho các doanh nghiệp Trung Quốc thuộc khu vực nhà nước. Ít có những nghiên cứu tương tự như công trình của Csnadi đã được tiến hành ở Trung Quốc trong những năm 80. Người ta biết những lý lẽ do D. Granick đưa ra (1990), nhấn mạnh đến những đặc thù của bộ máy quan liêu Trung Quốc có tìm cách chứng minh rằng các doanh nghiệp nhà nước do cấp tỉnh hay cấp địa phương quản lý đều đã chịu một sự kiềm chế ngân sách tương đối chặt chẽ vì các ngân hàng đia phương không thể tạo ra tiền. Ngay dù cho các lý lẽ này tương đối có sức thuyết phục dưới ánh sáng của những nghiên cứu thực nghiệm đã nhiều lần chứng minh rằng các ngân hàng địa phương nhanh chóng vượt qua như thế nào những hạn ngạch phát hành tiền mà họ được Ngân hàng trung ương cấp cho (Naughthon, 1991), thì điều này vẫn có thể là bằng chứng cho thấy rằng quy mô doanh nghiệp và cấp bậc của cơ quan hành chính quản lý doanh nghiệp (tùy theo cấp quản lý là trung ương hay địa phương mà trọng lượng sức vận động chính trị ở hậu trường – lobbying – của các doanh nghiệp thay đổi) là những tiêu chí thích đáng để phân tích sự xâm nhập lẫn nhau giữa bộ máy quan liêu và các doanh nghiệp. Gần đây, K.J. O’Brian (1992) đã chứng minh từ một mẫu điều tra tương đối hạn chế ở 25 doanh nghiệp nhà nước rằng những doanh nghiệp có quy mô lớn và mạng lưới ủng hộ chính trị rộng đều được hưởng những đặc nhượng và miễn trừ từ phía các cơ quan quản lý công nghiệp chủ quản. Một trong những kết luận chủ yếu của công trình nghiên cứu này đã phát hiện ra rằng phần đông những giám đốc của các doanh nghiệp lớn đều chống lại những cải cách triệt để về các quyền sở hữu nếu những cải cách đó có nghĩa là sự ràng buộc về ngân sách sẽ trở nên nghiêm khắc hơn.

Như vậy là điều trên đây lại củng cố thêm giả thuyết của J. Winoeck. Cũng thế, những nghiên cứu được tiến hành trên những nền văn hóa khác (Đông Âu) nhưng cùng có một tổ chức hệ thống tương tự cũng có thể được áp dụng và làm sáng tỏ những thất bại của khu vực kinh tế nhà nước của Trung Quốc. Những suy nghĩ do các chuyên gia về kinh tế và về bộ máy quan liêu Trung Quốc đã được nhắc đến trước đây (Chevrier, Liberthal, Oksenberg) có thể được bổ sung bằng sự đóng góp dựa trên các quyền sở hữu. Cuối cùng, người ta có thể nói rằng đóng góp đó còn gián tiếp tìm được tiếng vang trong số các nhà lý luận cải cách người Trung Hoa, nhưng L. Jiang (1987) và Hu Y (1988), là những người đã đề xướng cuộc cải cách về sở hữu, coi đó là điều kiện đầu tiên để đảm bảo thành công của những cải cách khác – giá cả, thuế khóa, quyền tự chủ quyết định. Nhưng những người này, cũng như tất cả mọi người trí thức Trung Quốc trong những điều kiện chính trị hiện nay, chỉ có thể tự cho phép mình công khai tố cáo những hậu quả của chế độ, chứ không thể nói ra tính chất thật sự của nó. Trong trò chơi ghép hình này, họ lo giữ thân, chẳng dại gì mà công khai lắp cái mảnh cuối cùng cho thành hẳn tấm hình trọn vẹn.

2/ Những con chủ bài mới của nền công nghiệp Trung Quốc

2.1/ Sự hình thành những tác nhân của nền công nghiệp

Nền kinh tế Trung Quốc từ năm 1978 đã trải qua những đảo lộn sâu sắc, tạo nên sự năng động của kết cấu công nghiệp và tương phản với các nền kinh tế ở Đông Âu. Những vùng an toàn cho sự năng động xuất hiện không phải là kết quả trực tiếp của các cuộc cải cách. Đúng hơn đó là những tác nhân mới đã lọt vào được trong những khoảnh đất tự do nhờ các cải cách mà có. Những tác nhân mới đó thường là phát sinh từ hệ thống gọi là kế hoạch hóa hay quan liêu gắn liền với chế độ sở hữu nhà nước nhưng lại hoạt động ở bên ngoài hệ thống đó. Đó là các doanh nghiệp hương trấn, những doanh nghiệp có vốn của nước ngoài và ở một mức độ nhỏ hơn, các doanh nghiệp tập thể. Tuy nhiên bộ mặt quan liêu chẳng vì thế mà bị loại ra ngoài cơ năng đó, trái hẳn lại, nó là một mắt xích bắt buộc phải đi qua nhờ ở lợi thế của nó là kẻ nắm quyền tán thành và cả quyền kiểm soát đối với thị trường tiền tệ và đối với khâu cung cấp, điều đó tạo cho nó, trong một số trường hợp, cái quyền bảo đảm hay không bảo đảm cho sự tồn tại lâu dài của một số doanh nghiệp nào đó. Tuy nhiên, các doanh nghiệp mới từ nay hoạt động trên cơ sở của một kỷ luật tài chính chứ không phải là theo một hệ thống ô dù và kiểm soát chính trị như trong khu vực nhà nước. Sở dĩ họ làm được như vậy, hoặc là nhờ sự có mặt của những hãng nước ngoài (liên doanh, 100% vốn), hoặc rất đơn giản, nói theo cách của Kornai (1989) là do “bộ máy quan liêu bị lâm vào cái thế thực tế không thể nào áp dụng được cho hàng vạn doanh nghiệp hay hàng triệu cá nhân những phương pháp mà nó áp dụng cho những doanh nghiệp lớn”. Những tác nhân này hình thành cái véctơ chuyển tải một phương thức hoạt động mới do quyền tự chủ của họ trong quyết định và những quan hệ của họ với khu vực chính trị. Họ đại diện từ nay cho một phần đáng kể và ngày càng tăng của hoạt động công nghiệp (Bảng số 2) đến mức mà từ nay người ta có thể nêu lên rõ ràng một mối quan hệ chặt chẽ và theo tỷ lệ nghịch giữa quy mô của khu vực nhà nước với những thành tích của khu vực này về tổng năng suất của các nhân tố (Geng, 1990a).

Bảng số 2: Quy mô sản xuất công nghiệp theo loại hình sở hữu

 

1978

1984 1988

1990

Doanh nghiệp nhà nước 81,4 73,6 57 54,6
Doanh nghiệp tập thể

Trong đó doanh nghiệp nông thôn

18,6

5,2

25

7,7

36

19

35,6

20,2

Những loại doanh gnhiệp khác 0 1,4 7 9,8

Đặc điểm này cũng kèm theo một sự vượt quá mô hình công nghiệp hóa của Liên Xô được đặt trên cơ sở công nghiệp nặng, do tầm quan trọng ngày càng lớn mà nền kinh tế Trung Quốc giao cho công nghiệp nhẹ ở những tỉnh năng động nhất. Từ những nhận xét trên đây, song song với những trở lực trong việc cải cách khu vực nhà nước còn có những hậu quả rất quan trọng: đó là có những điều kiện và những triển vọng cho việc quá độ sang thị trường và, nhìn chung hơn nữa, là những điều kiện và triển vọng công nghiệp hóa muộn, ở những mức độ khác nhau tùy theo các tỉnh. Thượng Hải trái ngược với tỉnh Quảng Đông, không những chỉ vì vị trí của nó đối với Hong Kong, mà cũng còn vì tầm quan trọng của khu vực nhà nước (gần 70%); tình hình cũng giống như vậy đối với các vùng công nghiệp truyền thống (Bắc Kinh, Thiên Tân, Liêu Ninh): hơn nữa những vùng này còn tìm kiếm sự tham gia tích cực của người nước ngoài để tạo dễ dàng cho sự quá độ và để đi đường vòng tránh được những trở lực cố hữu của khu vực nhà nước.

Trước khi quay trở lại những trở lục chủ yếu ngăn cản các cuộc cải cách tiến sâu hơn nữa trong khu vực nhà nước, chúng ta hãy xem xét những nguyên nhân tạo nên cơ năng của các tác nhân ở ngoài khu vực nhà nước.

(còn tiếp) 

Nguồn: Philippe Beraud & Jean-Louis Perrault – Những nhà kinh doanh của thế giới thứ ba – Viện NCQLKTTW 1998.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s