2.2/ Các doanh nghiệp nông thôn

Những thành tích đạt được của các doanh nghiệp nông thôn thật gây ấn tượng. Những doanh nghiệp này bảo đảm hơn 30% tăng trưởng của sản xuất công nghiệp giữa năm 1980 và 1987 (Kang, Jefferson, Singh, 1992). Nhờ những doanh nghiệp nông thôn trong thời kỳ phát triển năm 1980, hơn 67 triệu người trong số lao động dôi thừa do kết quả của các cuộc cải cách ruộng đất đã có công ăn việc làm; năng suất lao động đã tăng với nhịp độ hàng năm là 12%; số vốn cố định tăng hàng năm 27% cũng trong thời kỳ đó. Do đó, các doanh nghiệp nông thôn từ nay là một nguồn tại nên sự linh hoạt và bành trướng cần thiết cho nền kinh tế Trung Quốc cả trên bình diện xuất khẩu, do tích cực tham gia vào phân công lao động quốc tế, lẫn trên bình diện thị trường nội địa nhờ tăng số lượng dịch vụ và sản xuất (Chen và Xia, 1989).

Các doanh nghiệp này cho đến nay đã phát triển theo hai mô hình rất khác nhau (Hsu, 1991, p127). Mô hình thứ nhất được gọi là mô hình Weuzhou, tên của thành phố thuộc tỉnh Zheyiang, là nơi nó đã phát triển đầu tiên. Theo mô hình này các doanh nghiệp đều nằm trong tay những tư nhân, thường là trên cơ sở gia đình và sản xuất chủ yếu những hàng tiêu dùng thông thường. Những doanh nghiệp này nói chung ở xa các trung tâm đô thị và vẫn sử dụng rất đông công nhân. Vì những đặc điểm đó, chúng rất gần với kiểu kinh doanh cá thể. Mô hình thứ hai được gọi là Sunan (nghĩa đen là: phía Nam tỉnh Jiangsu). Những doanh nghiệp theo mô hình này gần hơn với những doanh nghiệp tập thể và xuất phát từ sáng kiến của các chính quyền địa phương. Nhìn chung loại doanh nghiệp này có quy mô to hơn so với loại doanh nghiệp theo mô hình Wenzhou và có cơ sở công nghệ tiến bộ hơn. Hơn nữa, chúng nằm ở ngoại vi các trung tâm đô thị lớn, từ đó chúng xuất khẩu một phần sản lượng của mình và làm gia công cho các doanh nghiệp nhà nước lớn, thậm chí còn cạnh tranh với những doanh nghiệp này.

Đối với các nhà kinh tế học Trung Quốc, các doanh nghiệp nông thôn là phản đề của những doanh nghiệp nhà nước (Hsu, 1990, p127): họ tự chịu trách nhiệm về lỗ và lãi của mình, họ đáp ứng những nhu cầu của thị trường và rất linh hoạt trong quản lý. Tuy nhiên các doanh nghiệp nông thôn đã từng bị chỉ trích gay gắt trong chiến dịch tập trung hóa trở lại năm 1988 và trong thời kỳ này (1988 – 1991) đã được đánh dấu bằng sự tái khẳng định vai trò ưu tiên và chỉ đạo của khu vực nhà nước. Các doanh nghiệp nông thôn lúc bấy giờ bị nghi là cạnh tranh với các doanh nghiệp nhà nước trên thị trường nguyên liệu và thị trường cung cấp đủ mọi loại, đồng thời góp phần gây ra nạn khan hiếm tràn lan là đặc điểm của các giai đoạn bành trướng nhanh của kinh tế Trung Quốc. Người ta ước lượng có khoảng gần 800.000 (tức là gần 10% tổng số) doanh nghiệp nông thôn bị phá sản trong năm 1989 (Oxford Analytica, 22/05/1990). Hậu quả tức thì của tình trạng này là có thêm hơn 5 triệu người thất nghiệp được chính thức thừa nhận ở nông thôn. Các nhà chức trách đã lùi bước rất nhanh, và, ngay từ năm 1990, họ đã bảo đảm tiếp tục một chính sách thuận lợi cho sự phát triển các doanh nghiệp nông thôn. Chính phủ đã vừa phát hiện ra vai trò không thể thiếu của những doanh nghiệp này đối với sự cân đối toàn cục của nền kinh tế Trung Quốc, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, về các khoản thu tài chính cũng như về việc thu số nhân công bị dôi thừa trong nông nghiệp (Byrd Gelb, 1990, p358 – 387).

Một số tác giả đã thấy ở sự năng động này một sự vi phạm đối với lý luận kinh điển về các quyền sở hữu, bởi họ cho rằng tính hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp nông thôn vẫn thích ứng với tình trạng không có các quyền sở hữu tư nhân, vì sở hữu của các doanh nghiệp này đều thuộc quy chế tập thể (Weitzman và Xu, 1992). Như vậy những tác giả này đã đưa ra một cách tiếp cận duy văn hóa đối với lý thuyết về các quyền sở hữu, nhấn mạnh đến nền văn hóa hợp tác dựa trên những quy tắc bất thành văn là đặc điểm của các mối quan hệ giữa bộ máy quan liêu và các doanh nghiệp nông thôn, và từ đó, theo họ, có thể rút ra một đặc thù Trung Quốc. Đây quả là một thuyết rất hấp dẫn và chắc chắn là đáng được kiểm nghiệm trong thực tế, nhưng cũng sẽ nguy hiểm không kém nếu người ta giảm bớt đi tầm quan trọng của những dữ kiện về dân số và chính trị hiện nay.

Đây là một trong những dị biệt cơ bản giữa bối cảnh tiến hành các cải cách về kinh tế của Trung Quốc và bối cảnh của các quốc gia ở Đông Âu. Sức ép về dân số ở Trung Quốc mạnh đến nỗi có một tất yếu không thể cưỡng lại là phải để cho các địa phương chủ động phát triển những sáng kiến của họ thông qua kinh doanh. Gần đây người ta đã ước lượng có khoảng 70 đến 156 triệu người là số nhân công dư thừa chưa có việc làm ở các vùng nông thôn. Không những dân số ở nông thôn tăng với nhịp độ hàng năm là 8 triệu người (Ma và Sin, 1992, p275), mà sự làm chủ dân số nông thôn cũng còn xa mới bảo đảm được. Các nhà chức trách tìm cách duy trì chế độ cấp hộ khẩu để ngăn chặn làn sóng rời bỏ nông thông có khả năng lôi cuốn hơn 100 triệu người trong những năm sắp tới (Hiraiwa, 1992). Xem thế thì có thể hiểu được rằng, nếu các doanh nghiệp nông thôn là tấm gương phản chiếu một sự tự phát nào đó của các cải cách kinh tế của Trung Quốc – hay là sự cải cách từ đáy lên (Bottom up reform) – (Kang, Jefferson, Singh, 1992), thì đồng thời đó cũng là, và trước hết là một đòi hỏi cấp bách của ổn định xã hội, bảo đảm cho sự tiếp tục tồn tại của chế độ cộng sản.

1.3/ Những doanh nghiệp có vốn của người nước ngoài

Chính sách mở cửa ra nước ngoài cùng với các doanh nghiệp nông thôn là cái nguồn sản sinh ra những đảo lộn sâu sắc của nền kinh tế Trung Quốc. Cùng với Ấn Độ, lãnh thổ Trung Hoa là một trong hai nước duy nhất đã có một sự phát triển rất nhanh về đầu tư trực tiếp nước ngoài. Từ năm 1978 đến 1988, người ta đã chứng kiến một sự tăng rất nhanh số lượng dự án đầu tư với trung bình hàng năm là khoảng từ 2000 đến 3000 dự án mới, tức là gần 40 tỷ USD phân ra cho gần 25000 hợp đồng đến hạn năm 1990. Trong tổng số đó, gần 90% các hợp đồng là những liên doanh và những dự án liên kết phát triển.

Đó là những tín hiệu báo hiệu sự thay đổi, tuy nhiên người ta ghi nhận một sự giảm sút của số cơ sở đầu tư từ Hong Kong nhường chỗ cho những cơ sơ đầu tư từ Hoa Kỳ và Nhật Bản (đặc biệt là ở những tỉnh Đông Bắc). Theo số liệu thống kê năm 1991, tính chung tất cả các ngành công nghiệp, cho thấy với khối lượng đầu tư không thay đổi (3 tỷ USD), một sự tăng mạnh đầu tư của Nhật Bản và Hoa Kỳ chiếm một tỷ lệ của tổng đầu tư nước ngoài, sau Hong Kong (54,9%) là 14,4% đối với Nhật Bản và 13,1% đối với Hoa Kỳ (Hairaiwa, 1992). Chuyển dịch này là một chỉ dấu tốt trong việc tiếp tục những đầu tư trực tiếp. Nó chỉ ra những khả năng, đối với Trung Quốc, về sự đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư cũng như khả năng tiếp nhận một nền công nghệ (bao gồm cả công nghệ quản trị) ở trình độ phức tạp hơn so với công nghệ do Hong Kong cung cấp. Hiện tượng này cũng được tăng cường thêm nhờ bộ sự tăng trưởng các chi nhánh 100% vốn đầu tư nước ngoài từ nay đuổi sát công thức liên doanh về khối lượng đầu tư (1860 cơ sở chi nhánh có 100% vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư 2,44 tỷ USD) (theo báo The South China Morning Post, 29/06/1992). Đây là một sự cắt đứt quan trọng đối với tình hình những năm 1980 và có nghĩa là lãnh thổ Trung Quốc tách khỏi tình trạng là khu vực dành riêng cho Hong Kong để trở thành một đích đến đầu tư quan trọng của các tập đoàn đa quốc gia. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hình thành một trong những bộ phận năng động nhất của nền kinh tế Trung Quốc, đặc biệt là trên bình diện ngoại thương – chiếm gần 25% tổng số – những cũng cả về năng suất lao động, cao gấp đôi hay gấp ba so với thành tích của các doanh gnhiệp nhà nước nói chung. Ở điểm này lại một lần nữa, khó mà so sánh cái không thể nào so sánh được. Các doanh nghiệp do vốn của nước ngoài khá so với các doanh nghiệp nhà nước về nhiều phương diện tài chính, tuyển dụng nhân công, quản lý. Nói tóm lại, những doanh nghiệp này dần dần nắm được một quyền tự chủ quyết định thật sự với bộ máy quan liêu.

(còn tiếp) 

Nguồn: Philippe Beraud & Jean-Louis Perrault – Những nhà kinh doanh của thế giới thứ ba – Viện NCQLKTTW 1998.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s