Căn cứ vào sự phân tích trên đây, chúng ta thấy mâu thuẫn cơ bản giữa bá quyền của Mỹ và chống bá quyền của các nước lớn khác có đầy đủ ba đặc trưng của mâu thuẫn chính trị quốc tế chủ yếu, do vậy, có thể cho rằng mâu thuẫn này là mâu thuẫn chính trị quốc tế chủ yếu sau chiến tranh lạnh.

Mâu thuẫn giữa bá quyền và chống bá quyền là mâu thuẫn chính trị quốc tế thường thấy, nhưng tính đặc thù thời đại của mâu thuẫn này có khác nhau ở mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau. Tính đặc thù của mâu thuẫn này sau chiến tranh lạnh chủ yếu thể hiện ở hai mặt của cuộc đấu tranh giữa tính chất chế độ bá quyền của Mỹ ở phạm vi quy tắc quốc tế.

Cái Mỹ cần xây dựng sau chiến tranh lạnh là bá quyền về chế độ, điều này khác với một số bá quyền từng có trong lịch sử. Tất cả bá quyền đều lấy thực lực quân sự làm nền tảng, lấy phương pháp cưỡng chế để thực hiện lợi ích của mình ở nước ngoài. Còn bá quyền của Mỹ khác với bá quyền trước kia ở chỗ nó không hoàn toàn dùng thực lực quân sự để áp đặt ý muốn của mình cho người khác, mà muốn xây dựng một hệ thống bá quyền được thể chế hóa do Mỹ làm chủ đạo. Mỹ là nước có hiến pháp thành văn tương đối sớm, tư tưởng hiến pháp trong thời gian dài của nó có ảnh hưởng sâu sắc tới việc hoạch định chính sách ngoại giao của nó ảnh hưởng chính trị này khiến chính sách bá quyền của Mỹ hết sức coi trọng các tổ chức quốc tế cũng như quy phạm và cơ chế quốc tế hữu hình và vô hình. Hệ thống bá quyền thể chế hóa là thông qua việc xây dựng quy phạm quốc tế được nhiều người chấp nhận để làm cho chính sách bá quyền của Mỹ được hợp pháp hóa, nhằm được sự ủng hộ về chính trị của nhiều nước, giảm sự ỷ lại quá mức vào vũ lực của chính sách bá quyền. “Báo cáo chiến lược an ninh quốc gia cho thế kỷ mới” của Mỹ đề ra trong năm 1999 chỉ rõ: “Chúng ta (Mỹ) nên ủng hộ cơ cấu và tổ chức quốc tế, để từ đó được sự ủng hộ của các nước khác đối với Mỹ, giúp cho Mỹ đảm đương gánh nặng lãnh đạo thế giới”. Để hợp pháp hóa bá quyền của mình, Mỹ ra sức lợi dụng tổ chức quốc tế nhiều bên để thực thi bá quyền của nó. Chẳng hạn, trong cuộc chiến tranh Kosovo năm 1999, trước hết Mỹ lợi dụng sự ủng hộ của khối NATO giành được thắng lợi về mặt quân sự, sau đó lại đưa phương án giải quyết Kosovo bằng chính trị cho Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc để giành được sự phê chuẩn của Hội đồng Bảo an.

Chính vì cái mà Mỹ muốn xây dựng là hệ thống bá quyền về tính chất chế độ, do vậy nội dung hạt nhân của bá quyền và chống bá quyền sau chiến tranh lạnh là cuộc đấu tranh trong phạm vi quốc tế, tức là xây dựng một quy tắc quốc tế như thế nào. Cơ sở của bá quyền về tính chất chế độ là thực lực cộng với quy phạm quốc tế, do vậy sau chiến tranh lạnh Mỹ không ngừng xây dựng quy phạm quốc tế mới. Nhưng, quy phạm quốc tế mà Mỹ muốn xây dựng được cân nhắc từ giác độ bá quyền của Mỹ, do vậy không thể tránh khỏi đe dọa lợi ích chiến lược của các nước lớn khác, và các nước lớn có đấu tranh gay gắt trên vấn đề xây dựng quy phạm quốc tế như thế nào. Về quân sự, Trung Quốc và Nga đề xướng xây dựng quan niệm an ninh mới, còn Mỹ muốn tăng cường liên minh quân sự và xây dựng thể chế phòng ngừa phổ biến vũ khí sát thương, đặc biệt là phòng ngừa tên lửa và xây dựng chế độ khống chế kỹ thuật tên lửa. Về chính trị, Trung Quốc và Nga kiên trì nguyên tắc không xâm phạm chủ quyền và can thiệp công việc nội bộ, còn Mỹ chủ trương can thiệp nhân đạo và can thiệp có tính chất xây dựng, phủ định quan niệm dân tộc và chủ quyền truyền thống. Về kinh tế, châu Âu và Nhật Bản thì lại chủ trương nguyên tắc linh hoạt cân nhắc cụ thể tình hình cụ thể, còn Mỹ chủ trương nguyên tắc phổ biến tự do mậu dịch.

Vị trí của Trung Quốc trong mâu thuẫn chính trị quốc tế chủ yếu

Mặc dù chính sách bá quyền của Mỹ có mâu thuẫn với lợi ích chiến lược của mấy cường quốc khác, nhưng mâu thuẫn với Trung Quốc là nổi trội nhất. Nguyên nhân cơ bản không phải là vì thực lực của Trung Quốc hơn mấy cường quốc khác, mà do tầng nấc của mâu thuẫn song phương nhiều hơn và tính bài xích lớn hơn. Nói một cách tương đối, mâu thuẫn giữa mục tiêu bá quyền của Mỹ với Trung Quốc nhiều hơn mâu thuẫn với các nước khác, sách lược bá quyền của Mỹ đối với sự bài xích của Trung Quốc cũng lớn hơn sự bài xích của các nước khác.

Mục tiêu bá quyền thế giới của Mỹ chủ yếu có thể chia làm ba lĩnh vực an ninh, chính trị và kinh tế. Báo cáo chiến lược an ninh quốc gia trong thế kỷ mới mà Mỹ đề ra trong năm 1998 đã quy định mục tiêu xây dựng hệ thống bá quyền của Mỹ: về an ninh, cần phải xây dựng một môi trường hòa bình ổn định, không cho phép lực lượng đối lập Mỹ chủ đạo an ninh khu vực; về chính trị, thức hiện quan niệm dân chủ trên toàn cầu, mở rộng số lượng các quốc gia dân chủ theo kinh tế thị trường và tăng cường sự can thiệp của cộng đồng quốc tế vào công việc nhân quyền; về kinh tế, thúc đẩy tự do mậu dịch và tăng trưởng liên tục trên toàn cầu nhằm bảo vệ sự phồn vinh của nước Mỹ.

Căn cứ vào mục tiêu bá quyền của Mỹ, có thể thấy mâu thuẫn giữa những mục tiêu đó với Trung Quốc vượt xa mâu thuẫn với các cường quốc khác. Mâu thuẫn về chính trị là nổi bật nhất, Mỹ, châu Âu, Nhật Bản và Nga đều là chế độ chính trị tư bản chủ nghĩa bầu cử theo chế độ đảng, điều này làm cho mục tiêu chính trị bá quyền của Mỹ chỉ mâu thuẫn với Trung Quốc, còn các cường quốc khác không có mâu thuẫn. Để thực hiện kiểu dân chủ phương Tây, Mỹ phải xây dựng quy tắc can thiệp quốc tế, bao gồm sự can thiệp nhân đạo, điều này đối với Trung Quốc, một nước có chế độ chính trị khác với Mỹ, là mối đe dọa lớn nhất.

Về mặt an ninh, mức độ gay gắt của mâu thuẫn giữa Trung Quốc và Mỹ cũng giống như gay gắt của mâu thuẫn giữa Nga và Mỹ, Trung Quốc và Nga là cường quốc quân sự khu vực mà Mỹ phải phòng ngừa, còn giữa Nhật Bản và châu Âu với Mỹ về mặt này không có mâu thuẫn lớn. Việc mở rộng khối NATO sang phía Đông là sự kiềm chế đối với Nga, liên minh Nhật Bản – Mỹ là nhằm vào Trung Quốc. Đồng thời, hai nước Trung Quốc và Nga đều đứng trước mối đe dọa của chủ nghĩa ly khai, mà những thế lực ly khai này đều được sự ủng hộ về chính trị hoặc quân sự của Mỹ. Sách lược xây dựng quy tắc can thiệp quốc tế của Mỹ rất dễ tiến hành can thiệp đối với các cuộc xung đột do chủ nghĩa ly khai phát động, điều này tạo ra mối đe dọa to lớn đối với truyền thống dân tộc của hai nước Trung Quốc và Nga. Còn Nhật Bản và châu Âu là bạn đồng minh quân sự của Mỹ, không có đối lập hoàn toàn về mặt an ninh. Chỉ có châu Âu muốn xây dựng đội phòng vệ độc lập, thoát khỏi quyền chủ đạo của Mỹ đối với công việc an ninh của châu Âu, điều này là mâu thuẫn với ý đồ chiến lược của Mỹ muốn nắm quyền chủ đạo an ninh của châu Âu, nhưng mâu thuẫn đó chẳng qua chỉ là mâu thuẫn trong nội bộ những đồng minh.

Về mặt kin tế, hạt nhân mâu thuẫn giữa Trung Quốc và Mỹ là vấn đề gia nhập thị trường, điểm này cũng giống như Nhật Bản và châu Âu, còn giữa Nga và Mỹ không có mâu thuẫn gay gắt này về mặt kinh tế.

Từ mâu thuẫn của tầng nấc mục tiêu để nhìn, giữa Trung Quốc và Mỹ đều có mâu thuẫn mang tính chiến lược cả về ba mặt chính trị, an ninh và kinh tế, còn Nhật Bản, châu Âu và Nga chỉ có mâu thuẫn mang tính chiến lược với Mỹ về một mặt kinh tế hoặc an ninh.

Căn cứ vào sự phân tích trên đây, mức độ mâu thuẫn chiến lược giữa Trung Quốc và Mỹ là lớn hơn mâu thuẫn giữa các cường quốc khác với Mỹ. Nếu dùng phương pháp chỉ số để so sánh mâu thuẫn mang tính chiến lược giữa Mỹ với các nước lớn thì có thể thấy sự khác biệt giữa mức độ mâu thuẫn giữa Trung Quốc và Mỹ với mức độ mâu thuẫn giữa các nước lớn khác với Mỹ.

Bảng 2

Mâu thuẫn mang tính chiến lược giữa mục tiêu bá quyền của Mỹ với các nước chủ yếu trên thế giới

Kinh tế

Chính trị

An ninh

Mỹ, Nhật Bản

Gia nhập thị trường

Mỹ, châu Âu

Gia nhập thị trường

Phòng bị độc lập*

Mỹ, Nga

Mở rộng an ninh sang phía Đông

Mỹ, Trung Quốc

Gia nhập thị trường

Vấn đề Đài Loan

*Mâu thuẫn có tính nửa chiến lược

Bảng 3

Mức độ mâu thuẫn giữa Mỹ với Trung Quốc, Nhật Bản, Nga, châu Âu

Kinh tế

Chính trị An ninh Chiến lược

Cộng

Mỹ – Nhật Bản

1

0 0 0

1

Mỹ – châu Âu

1

0 0 – 0,5 0

1 ~ 1,5

Mỹ – Nga

0

0 3 0,5

3,5

Mỹ – Trung Quốc

1

2 3 1

7

Dựa vào bảng 2, có thể quy định chỉ số các mâu thuẫn là 1; sau đó căn cứ vào tầm quan trọng của tính chất mâu thuẫn trong lợi ích chiến lược để cộng thêm vào: quyền kinh tế là 1, quyền chính trị là 2, quyền an ninh là 3. Như thế chúng ta sẽ có, chỉ số mức độ mâu thuẫn chiến lược giữa Trung Quốc và Mỹ là 1 + 2 + 3 = 6, mức độ mâu thuẫn chiến lược Mỹ, Nga là 3, mức độ mâu thuẫn chiến lược giữa Nhật Bản, châu Âu và Mỹ là 1 (cho dù cân nhắc đến mâu thuẫn của châu Âu, Mỹ trong quân đội phòng vệ độc lập châu Âu, chỉ số mức độ mâu thuẫn châu Âu, Mỹ cũng không nên vượt quá 1,5). So sánh từ tầng nấc mục tiêu chiến lược, mức độ mâu thuẫn chiến lược Trung Quốc và Mỹ bằng 2 lần Mỹ – Nga, bằng 6 lần Nhật – Mỹ, bằng 4 – 6 lần Âu Mỹ…

(còn tiếp) 

Người dịch: Trần Thanh Hà

Nguồn: TN 2000 – 90 & 91

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s