Tất nhiên tham nhũng thì phải có người tiếp tay cho hành vi tham nhũng. Ngoài chỉ số CPI, tổ chức Minh bạch quốc tế cũng công bố Chỉ số người hối lộ (BPI) định kỳ. Trong số 22 nước xuất khẩu, chỉ số BPI năm 2008 không tương quan với chỉ số UAI song tỷ lệ nghịch với mức độ giàu có của nước đó – các hãng xuất khẩu ở những nước nghèo hơn như Trung Quốc và Ấn Độ thường hối lộ nhiều hơn. Bên cạnh đó, khoảng cách quyền lực ở nước xuất khẩu cũng đóng vai trò đáng kể, các hãng xuất khẩu ở những nước có chỉ số PDI cao hơn thì hối lộ nhiều hơn.

Bảng 6.5 tổng kết những điểm khác biệt chính giữa xã hội có tâm lý tránh bất định thấp liên quan đến lĩnh vực chính trị và nhà nước.

Bảng 6.5: Điểm khác biệt chính giữa xã hội có tâm lý tránh bất định cao và tâm lý tránh bất định thấp
IV. Công dân và Nhà nước
Tránh bất định thấp Tránh bất định cao
Ít luật và luật bất thành văn, điều luật tổng quát Nhiều luật và luật bất thành văn, điều luật chi tiết
Luật cần được sửa đổi nếu không được tôn trọng Pháp luật là cần thiết ngay cả khi nó không được tôn trọng
Tòa án ra phán quyết nhanh chóng Tòa xử án lâu, chậm chạp
Công dân có quyền đưa ra các ý kiến phản đối Các ý kiến phản đối từ công dân luôn được hạn chế
Công chức, viên chức nhà nước không cần bằng cấp về pháp luật Công chức, viên chức nhà nước phải có bằng cấp về pháp luật
Người dân luôn quan tâm đến chính trị Người dân không quan tâm đến chính trị
Các chính trị gia, công chức, viên chức, hệ thống pháp luật luôn được tin tưởng Người dân có quan điểm tiêu cực đối với các chính trị gia, dịch vụ công và hệ thống pháp luật của đất nước
Tỷ lệ tham gia các phong trào, các tổ chức tình nguyện cao Tỷ lệ tham gia các phong trào, các tổ chức tình nguyện thấp
Nhà chức trách chịu trách nhiệm tìm bằng chứng xác thực Công dân phải đưa ra bằng chứng xác thực
Quan sát từ bên ngoài cho thấy tỷ lệ tham nhũng ở mức thấp Quan sát từ bên ngoài cho thấy tỷ lệ tham nhũng ở mức cao
Chủ nghĩa tự do Chủ nghĩa bảo thủ dựa vào pháp luật và trật tự xã hội
Giới trẻ có thái độ tích cực Giới trẻ có thái độ tiêu cực
Chấp nhận cả tư tưởng cực đoan Ngăn chặn chủ nghĩa cực đoan

Tâm lý tránh bất định, sự bài ngoại và chủ nghĩa dân tộc

Năm 1983, một học sinh trung học 16 tuổi ở Rotterdam – sau đây chúng tôi gọi là Anneke, đã tham gia vào chương trình trao đổi sinh viên giữa Hà Lan và Áo. Cô bé sống cùng một gia đình giáo viên trung học ở thị trấn khá đông đúc ở Áo, gồm có thầy Riedl, vợ thầy, con gái Hilde (trạc tuổi Anneke), và hai con trai nhỏ hơn.

Anneke đi học với Hilde. Tiếng Đức của cô được cải thiện rất nhanh. Chủ nhật cô thường đến Mass cùng với gia đình thầy Riedl là những người rất sùng đạo Thiên Chúa La Mã. Anneke theo đạo Tin Lành song cô bé cũng không bận tâm lắm về điều này; cô thích trải nghiệm và hát thánh ca ở nhà thờ. Cô mang theo đàn violin và sau giờ học cô thường chơi violin và piano với Hilde.

Khi Anneke ở cùng gia đình thầy Rield được khoảng 2 tháng, câu chuyện trong các bữa tối chuyển sang chủ đề về những người Do Thái. Gia đình thầy Rield dường như có thành kiến nặng nề với vấn đề này. Anneke cảm thấy rất buồn. Cô hỏi vợ thầy Rield có biết người Do Thái nào không. “Đương nhiên là bác không biết”, vợ thầy Rield trả lời.

Anneke cảm thấy máu dồn lên mặt. “Vậy thì bây giờ bác đã biết một người rồi đấy ạ. Cháu là người Do Thái. Ít nhất là mẹ cháu sinh ra trong một gia đình Do Thái, theo truyền thống của người Do Thái thì bất kỳ người nào sinh ra từ một người mẹ Do Thái thì cũng là người Do Thái”.

Bữa tối chấm dứt trong im lặng. Sáng ngày hôm sau, thầy Rield kéo Anneke ra một góc và nói cô không thể ăn cùng với gia đình thầy nữa. Mọi người sẽ để cô ăn riêng. Cô bé cũng không được đi nhà thờ cùng gia đình nữa, và đáng lẽ gia đình thầy phải được biết rằng Anneke là người Do Thái. Vài ngày sau, Anneke quay về Hà Lan.

Trong số các nước thành viên Liên minh châu Âu, Áo và các nước Trung Âu trong nghiên cứu của IBM và các nghiên cứu mô phỏng khác thường có chỉ số tránh tâm lý bất định tương đối cao. Ở khu vực này của châu Âu, thái độ thành kiến tôn giáo, kể cả chủ nghĩa bài Do Thái đã hình thành từ nhiều thế kỷ. Đến năm 1930, có một cộng đồng lớn người Do Thái ở Vienna. Nhiều học giả hàng đầu ở Áo là người Do Thái, trong số đó có Sigmund Freud. Năm 1936, Đảng Quốc xã Đức xâm chiếm nước Áo. Nhiều người Áo Do Thái phải tháo chạy, nhiều người di cư đến Mỹ. Những người không di tản đã phải bỏ mạng trong những cuộc thảm sát của Đảng Quốc xã. Từ năm 1945, chỉ còn lại rất ít người Do Thái ở Áo. Câu chuyện trần trụi của chúng tôi đã cho thấy thái độ định kiến có thể tồn tại, thậm chí phát triển vô bờ bến, rất lâu sau khi đề tài này đã lắng xuống.

Gia đình thầy Riedl trong câu chuyện của chúng tôi đã được lập trình với cảm giác rằng những gì khác biệt chính là hiểm họa, và họ chuyển những cảm giác này sang cho con cái họ. Chúng tôi không biết các con của thầy Riedl sẽ nhìn nhận sự việc như thế nào, và liệu rằng chúng có trở nên định kiến giống như cha mẹ không. Cảm giác về mối nguy hiểm có thể nhắm thẳng đến các nhóm thiểu số (hoặc thậm chí các nhóm thiểu số trong quá khứ), những người di cư và tị nạn, và người dân nước ngoài. Dữ liệu tổng kế trong báo cáo của Ủy ban châu Âu về phân biệt chủng tộc và chủ nghĩa bài ngoại ở châu Âu (1997) chỉ ra rằng quan điểm về việc phải trục xuất người di cư trở về đất nước của họ có mối tương quan chặt chẽ với tâm lý tránh bất định. Ở IBM, các cán bộ quản lý người nước ngoài ít được chào đón ở những nước có chỉ số UAI cao.

Cảm nhận về các quốc gia khác không chỉ dao động cùng với tâm lý tránh bất định mà thay đổi theo cả chỉ số nam tính. Hình 6.1 minh họa sự kết hợp của hai yếu tố này. Quyền lực của khối Axis từ Chiến tranh Thế giới II: Đức, Italy và Nhật Bản đều tập trung ở góc phía dưới bên phải: tâm lý tránh bất định mạnh cùng với đặc điểm nam tính. Trước chiến tranh, tư tưởng vị chủng, bài ngoại và thái độ hiếu chiến chiếm ưu thế ở những nước này dễ dàng hơn ở những nước có nền văn hóa khác biệt. Chủ nghĩa Phát xít và phân biệt chủng tộc kiếm được mảnh đất nuôi dưỡng màu mỡ nhất ở các nền văn hóa có tâm lý tránh bất định mạnh cùng với các giá trị nam tính. Nghịch lý là cũng chính những giá trị này ở thời kỳ hậu chiến lại góp phần cho sự khôi phục nền kinh tế nhanh chóng ở các nước này. Điểm yếu của một nền văn hóa trong những hoàn cảnh khác nhau có thể biến thành sức mạnh.

Sự kết hợp giữa tâm lý tránh bất định và chủ nghĩa cá nhân như minh họa trong Hình 6.2 cho thấy những cách thức khác nhau mà xã hội vận dụng để ứng phó với vấn đề mâu thuẫn nội bộ. Sự tồn tại nhiều dân tộc, ngôn ngữ hoặc tôn giáo khác nhau trong cùng một nước là sự kiện mang tính chất lịch sử; một số nước thuần chủng hơn các nước khác. Tuy nhiên, cách thức người dân và chính phủ ứng phó với vấn đề mâu thuẫn như vậy là một hiện tượng văn hóa. Các nước ở phía trên bên phải có tâm lý tránh bất định mạnh mẽ (“khác biệt là hiểm họa”) kết hợp với chủ nghĩa bài ngoại tập thể (khẳng định danh tính mạnh mẽ trong nhóm). Các nước này thường loại bỏ vấn đề mâu thuẫn nội nhóm bằng cách chối bỏ, đồng thời cố gắng đồng hóa hoặc đàn áp các thành phần thiểu số. Khả năng xảy ra xung đột bạo lực nội bộ ở các nước này là rất lớn, vì các nhóm thiểu số cũng nắm giữ những đặc điểm của chủ nghĩa tập thể và có tâm lý tránh bất định mạnh mẽ không kém. Các nước có mâu thuẫn nội bộ nặng nề tập trung ở góc phía bên phải trong Hình 6.2, gồm Serbia, các nước Arập và Thổ Nhĩ Kỳ. Indonesia và các nước châu Phi cùng nằm liền kề với góc này.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hofstede, Gert Jan Hofstede & Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQG HN 2013.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s