Tuy nhiên, trong trung và dài hạn, nền kinh tế Việt Nam vẫn còn phải đối mặt với nhiều khó khăn thực tế. Một là, mô hình tăng trưởng kinh tế theo kiểu vốn đầu tư nước ngoài thúc đẩy và kích thích đầu tư không bền vững. Trong 30 năm, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam phụ thuộc nhiều vào đầu tư và xuất khẩu, trong khi thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh chóng cũng dẫn đến mâu thuẫn nợ công dần nổi rõ, thậm chí trong tương lai có thể dẫn đến nguy cơ vỡ nợ, đồng thời tạo thành mối đe dọa nghiêm trọng cho sự ổn định kinh tế và xã hội của Việt Nam. Hai là, việc cải cách thể chế kinh tế có tiến triển chậm. Đặc biệt là việc cổ phần hóa đối với các doanh nghiệp nhà nước, do bị kìm kẹp bởi lợi ích của nhiều bên liên quan, các biện pháp đồng bộ thị trường hóa khó có thể ra đời, mục tiêu các chính sách liên quan khó đạt được trong ngắn hạn, kết quả không những hỗ trợ cho cuộc khủng hoảng tham nhũng mà còn làm cho rủi ro của cải cách không ngừng gia tăng. Ba là, cục diện phân chia của chính quyền hai miền Nam – Bắc cần được phá vỡ. Mặc dù Việt Nam đã thực hiện thống nhất hai miền Nam – Bắc vào năm 1975, nhưng giữa hai phe Nam – Bắc chưa đạt được sự hòa giải hoàn toàn, biểu hiện cụ thể qua sự khác biệt về nhu cầu lợi ích kinh tế – chính trị và các hoạt động cụ thể có sự bất đồng nghiêm trọng, khó đạt được một “nhận thức chung mang tính xây dựng”, gây cản trở nghiêm trọng các quyết sách của chính phủ phát huy hiệu quả. Ngoài ra, các vấn đề mang tính kết cấu như cơ cấu sản xuất không hợp lý, thu chi không cân bằng và thâm hụt tăng cao trên một mức độ tương đối lớn đã làm suy yếu tiềm năng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam và gây ra sự suy giảm sức sống của toàn bộ nền kinh tế.

III/ Hợp tác kinh tế thương mại Trung – Việt có tiềm lực lớn, nhưng cách thách thức cũng đang tăng lên

1/ Hợp tác kinh tế thương mại đạt được nhiều thành quả, chiều sâu hợp tác trong tương lai có triển vọng rộng rãi

a/ Thương mại giữa hai bên tiếp tục tăng trưởng nhanh, Trung Quốc đã có 12 năm liên tiếp là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam

Kể từ khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao vào năm 1991, kim ngạch thương mại song phương luôn tăng trưởng nhanh. Năm 1991, kim ngạch thương mại hai chiều chỉ có 32 triệu USD, tới năm 2015 đã tăng lên đến 95,97 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm lên tới 39,6% cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng bình quân của ngoại thương Trung Quốc trong những năm gần đây. Nếu năm 2016 tiếp tục đà tăng trưởng như năm 2015, mục tiêu kim ngạch thương mại song phương vào năm 2017 đạt 100 tỷ USD mà nhà lãnh đạo hai nước đề xuất có thể thực hiện trước thời hạn. Hiện nay, Trung Quốc đã có 12 năm liên tiếp là bạn hàng lớn nhất của Việt Nam, trong khi Việt Nam đã trở thành đối tác thương mại lớn thứ hai của Trung Quốc trong ASEAN, địa vị và vai trò của Việt Nam trong bản đồ thương mại của Trung Quốc ở châu Á – Thái Bình Dương ngày một tăng lên.

b/ Quy mô xuất siêu giảm nhẹ, cấu trúc thương mại có sự thay đổi

Do sự kiềm chế của các điều kiện thực tế như cơ sở hạ tầng kém phát triển, năng suất  lao động thấp, sự tụt hậu của các ngành nghề và sự bất cập về mặt thể chế, cơ chế, nhu cầu cảu Việt Nam đối với các sản phẩm gia công hoàn chỉnh của Trung Quốc rất mạnh, điều đó khiến Trung Quốc luôn ở trong tình trạng xuất siêu rõ rệt trong thương mại đối với Việt Nam.  Năm 2011, xuất siêu thương mại lên tới 17,98 tỷ USD, năm 2014 đã tăng lên đến 43,83 tỷ USD, trong 3 năm tăng gần 26 tỷ USD, tốc độ tăng trung bình hàng năm là 34,6%. Năm 2015, do các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc tăng mạnh, khiến kim ngạch thương mại nhập khẩu hàng hóa của Trung Quốc đối với Việt Nam đã tăng đáng kể, tương ứng với đó là kim ngạch xuất siêu giảm xuống còn 36,28 tỷ USD, giảm 17,2% so với cùng kỳ.

Trong khi tổng lượng thương mại giữa hai bên tăng trưởng ổn định, cơ cấu thương mại giữa hai nước cũng đang trải qua những thay đổi mới. Trước đây, Trung Quốc chủ yếu xuất khẩu sang Việt Nam các sản phẩm sử dụng nhiều sức lao động và sử dụng nhiều tài nguyên như các sản phẩm gang thép, dệt may và khoáng sản, nhưng trong những năm gần đây, cùng với sự tăng tốc chuyển đổi và nâng cấp của nền kinh tế Việt Nam, việc xuất khẩu các sản phẩm sử dụng nhiều vốn của Trung Quốc sang Việt Nam như thiết bị máy móc, sản phẩm điện cơ, điện khí tăng lên tương đối lớn, có khả năng trở thành một điểm tăng trưởng thương mại mới của hai nước.

c/ Quy mô đầu tư trực tiếp vào Việt Nam được mở rộng từng năm, hợp tác kinh tế song phương khá sôi nổi

Trong gần một thập kỷ qua, tổng vốn FDI của Trung Quốc vào Việt Nam có xu hướng tăng dần. Năm 2005, vốn FDI của Trung Quốc đổ vào Việt Nam là 21 triệu USD, tới năm 2015 đã tăng lên đến 333 triệu USD, tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm là 31,83%. Trong cùng kỳ, vốn FDI tích lũy của Trung Quốc đổ vào Việt Nam tăng từ 229 triệu USD lên 3,19 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng hàng năm là 30,14%. Xét về lĩnh vực đầu tư, do hiện nay hệ thống công nghiệp ở Việt Nam còn yếu, chi phí đất thấp và sức lao động giá rẻ dồi dào, do đó phần lớn FDI của Trung Quốc đổ vào 3 ngành lớn là sản xuất, xây dựng và bất động sản. Tuy nhiên, đầu tư của Việt Nam vào Trung Quốc tăng tương đối chậm, tính đến năm 2015, Việt Nam chỉ tổng cộng đầu tư 124 triệu USD vào Trung Quốc, chủ yếu tập trung vào các ngành như nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản và khai thác khoáng sản.

Về phương diện hợp tác kinh tế song phương, năm 2015 số tiền các doanh nghiệp Trung Quốc ký hợp đồng mới tại Việt Nam là 3,46 tỷ USD, hoàn thành doanh số 3,52 tỷ USD, bao gồm các lĩnh vực như thủy điện, nhiệt điện, xi măng và bauxite, và các dự án cụ thể như đường cao tốc Hà Nội – Lào Cai, Hà Nội – Hải Phòng, nhà máy gang thép Lào Cai và nhà máy nhiệt điện. 23 trong 24 dự án nhà máy xi măng Việt Nam đã và đang xây dựng đều do Trung Quốc là nhà thầu EPC.

d/ Việc xây dựng khu hợp tác kinh tế xuyên biên giới đã đạt được kết quả đáng kể

Nhằm đổi mới mô hình hợp tác giữa hai nước từ đó tăng cường hơn nữa quan hệ hợp tác kinh tế và thương mại, trong những năm gần đây, việc xây dựng khu hợp tác kinh tế xuyên biên giới giữa hai nước được tăng tốc toàn diện. Hiện nay, hai nước đã thành lập 4 khu hợp tác xuyên biên giới là Đông Hưng – Móng Cái, Bằng Tường – Đồng Đăng, Long Bang – Trà Lĩnh, Hà Khẩu – Lào Cai và đạt được những tiến triển quan trọng trong việc kết nối cơ sở hạ tầng, hợp tác ngành nghề và đổi mới chính sách. Theo “Biên bản ghi nhớ về xây dựng khu hợp tác kinh tế xuyên biên giới” giữa Bộ Thương mại Trung Quốc và Bộ Công thương Việt Nam, hai nước tập trung phát triển các ngành trụ cột trong lĩnh vực sản xuất, du lịch xuyên biên giới và dịch vụ tài chính, mục tiêu là hình thành trung tâm thương mại quốc tế mang tính khu vực. Trong tương lai, việc đẩy nhanh khu hợp tác kinh tế xuyên biên giới giữa hai nước sẽ trở thành động cơ quan trọng thúc đẩy thương mại song phương phát triển theo chiều sâu.

e/ Cơ chế hợp tác đi vào chiều sâu

Là một cơ chế quan trọng trong hợp tác giữa Trung Quốc và Việt Nam, cơ chế hợp tác sông Lan Thương – Mekong do Thủ tướng Lý Khắc Cường khởi xướng thiết lập tại hội nghị các nhà lãnh đạo Trung Quốc – ASEAN lần thứ 17 năm 2014, và tổ chức cuộc họp ngoại trưởng đầu tiên vào tháng 11/2015, hiện đã trở thành sân chơi quan trọng để hai bên bàn bạc các kế hoạch hợp tác lớn, lập bản kế hoạch hợp tác, từ đó tăng cường hơn nữa hợp tác trong các lĩnh vực trọng điểm. Đồng thời, Trung Quốc và Việt Nam cũng có một không gian rộng lớn để hợp tác tại các diễn đàn đa phương như “10 + 1”, “10 + 3”, “10 + 6”, Tiểu vùng Mekong Mở rộng (GMS) và Diễn đàn hợp tác inh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC). Ngoài ra, các cơ chế hợp tác song phương như ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương, ủy ban hợp tác kinh tế và thương mại song phương cũng đã trở thành kênh thông tin liên lạc, cùng có lợi, phát triển hài hòa và đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hợp tác kinh tế và thương mại giữa hai bên. Với sự hỗ trợ là các cơ chế hợp tác nhiều tầng nấc, đa phương và song phương, quan hệ Trung – Việt đang tiếp tục hướng tới quan hệ đối tác chiến lược toàn diện có ảnh hưởng trong khu vực.

f/ Quảng tây là nơi chủ yếu của hợp tác thương mại giữa hai nước

Trong hợp tác kinh tế và thương mại với Việt Nam, Quảng Tây đã có một vị trí đặc biệt và lợi thế địa lý. Hiện nay, Quảng Tây có các cửa khẩu số 1 tiếp giáp Việt Nam như Đông Hưng, Hữu Nghị Quan, Thủy Khẩu, Long Bang và Bình Mãng, cũng như cửa khẩu số 2 là Ái Điếm, Động Trung, Thạc Long, Bình Nhĩ Quan, Nhạc Vu và Khoa Giáp. Mấy năm gần đây, thông qua các biện pháp như thương mại và đầu tư được tạo thuận lợi, đổi mới nghiệp vụ thanh toán bằng đồng NDT cũng như “kế hoạch tăng gấp đôi thương mại gia công”, thương mại hai chiều giữa Quảng Tây và Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng nhanh. Năm 2015, tổng kim ngạch xuất khẩu của Quảng Tây sang Việt Nam là 111,16 tỷ NDT, tăng 18,3% so với cùng kỳ, chiếm 92,13% xuất khẩu sang ASEAN.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí Toàn cầu hóa (TQ)

TLTKĐB – 16 & 17/01/2017

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s