Harry Ritter

….

Các khoa học giải thích giới tự nhiên; các nghiên cứu nhân văn hiểu các biểu hiện của đời sống con người. Hiểu nắm bắt thực thể cá biệt, còn khoa học thì luôn coi cái cá biệt như là sự biểu hiện của một loại hình phổ biến. Phương diện mấu chốt của quan niệm này (cái về sau nuôi dưỡng học thuyết của thuyết tương đối lịch sử) là ý niệm cho rằng ý nghĩa không bao giờ được “cố định và vững chắc” mà là mang tính “lịch sử: nó thay đổi theo thời gian; nó là vấn đề về mối quan hệ, luôn gắn liền với một viễn tượng từ đó các sự biến hay biến cố được xem xét… Sự diễn giải luôn đứng trong hoàn cảnh mà bản thân người diễn giải đứng trong đó; ý nghĩa xoay quanh hoàn cảnh này” (Palmer, 1969: 119-20).  Sự nhấn mạnh đến “viễn tượng” đã có trong ý niệm của Dilthey về Weltanschauungen (“các thế giới quan”), các định hướng tinh thần đặc trưng cho toàn bộ các xã hội, và sau này trong quan niệm của Beard ([1935] 1972: 319; [1934] 1959: 151) rằng nhà sử học không có cách nào khác là phải coi quá khứ từ “góc nhìn” hay “khung quy chiếu” riêng của mình. Mặc dù viễn tượng [perspective] thường được coi là một sự hạn định có xu hướng làm yếu dần tính khách quan yếu ở đầu thế kỷ 20, khoảng giữa thế kỷ [ấy] hầu hết các nhà sử học đi đến chỗ xem nó là một “cơ hội tích cực để quan sát các sự việc còn mù mờ” từ các điểm nhìn khác nhau (Hollinger, 1973: 388; Higham, 1965: 136).

Triết học Anh-Mỹ theo hướng duy nghiệm ở thế kỷ 20, trong khi chấp nhận ý niệm về viễn tượng, nhìn chung là hoài nghi truyền thống Âu châu lục địa này, và cứ thế dựa trên ý niệm rằng phần bản chất của sự hiểu lịch sử liên quan đến một “quá trình huyền bí của sự chuyển trao tinh thần” (Palmer, 1969: 104); thế nhưng, nhất là qua sự ảnh hưởng của triết gia Ý Benedetto Croce, truyền thống thông diễn học đã có một vài cuộc đột nhập đáng kể vào lý thuyết sử luận của ngôn ngữ Anh như được biểu hiện, chẳng hạn, trong học thuyết của thuyết tương đối lịch sử thịnh hành trong các thập niên 1920 và 1930, trong thuyết duy tâm lịch sử của Michael Oakeshott và R. G. Collingwood ([1946] 1956), và trong cái có lẽ là lý thuyết tỉ mỉ nhất về sự diễn giải lịch sử được đề xuất bởi một nhà sử học thế kỷ 20 là Hayden White.

Được gợi hứng bởi ví dụ của các nhà lý luận thế kỷ 19 như Hegel, Droysen, Nietzsche và Croce và chủ yếu dựa vào công trình của các nhà phê bình văn học thế kỷ 20 như Northrop Frye và Kenneth Burke, White ([1972-73] 1978) khai triển một mô hình đa tầng phức tạp cho cơ chế diễn giải lịch sử – một lý thuyết có ý đồ cho thấy một cách chính xác cách thức nhà sử học có thể dùng để chọn lọc các sự kiện của ông ta và xây dựng các mối liên kết để tạo ra một khuôn mẫu ý nghĩa bao quát. Sự diễn giải, theo ông, nên được hiểu qua những sự nối kết khả hữu khác nhau của (được cho là có ý thức hay không có ý thức) các chiến lược thi ca, lôgic học và tu từ học diễn ra ở 4 cấp độ.

(1) Cấp độ “mỹ học” (White, [1972-73] 1978: 70) trong đó nhà sử học nhào nặn các sự kiện của ông không những thành “câu chuyện” mà còn thành “câu chuyện thuộc một loại đặc thù” (ví dụ: hài kịch, bi kịch, tiểu thuyết, sử thi, trào phúng). White lưu ý (tr. 59) rằng sự diễn ra này của “ráp nối cốt truyện” “không diễn ra một cách tùy tiện … [mà] theo những quy ước văn chương …quen thuộc, các quy ước mà nhà sử học, giống như nhà thơ, bắt đầu tiếp thu ngay từ lúc đầu tiên mà ông ta được kể lúc còn bé.” (tr. 59). Các hình thức cốt truyện này cấu tạo nên một “kho các kinh nghiệm huyền bí [fund of mythoi”] mà ông ta có thể viện đến để gợi ra “hương vị của ý nghĩa hay biểu nghĩa” cho độc giả của ông ta (tr. 60); như trong vở kịch hay truyện, ý nghĩa được nắm bắt khi khán thính giả nhận ra loại câu chuyện nào đó đang được kể ra.

  1. Cấp độ “nhận thức luận”(tr. 70), đây là cấp độ của “luận cứ hình thức” hay “giải thích” (tr. 63) (ở đây giải thích được hiểu là một phạm trù nhỏ của khái niệm rộng lớn hơn là diễn giải). Trên bình diện này, nhà sử học có thể sử dụng nhiều lối tiếp cận, hay nhiều “hệ hình” giải thích: một sự phác họa đơn giản về các sự kiện đặc thù (phương pháp “mô tả cái riêng” [‘ideographic’]), sự tổng hợp hữu cơ, sự nối kết sự kiện  (tức là định vị những cái riêng trong ngữ cảnh), hay “sự quy giản máy móc của lĩnh vực liên quan tới các quy luật nhân quả phổ quát” (tr. 65).
  2. Cấp độ “tinh thần hay tư tưởng hệ”– cấp độ của phán đoán giá trị, của chính trị hay bất cứ thứ gì khác. Đi theo Marx và những người khác, White cho rằng “mọi nghiên cứu lịch sử thuộc bất cứ phạm vi hay bề sâu nào đều lấy một tập hợp các cam kết tư tưởng hệ cụ thể nào đó làm điều kiện tiên quyết” (tr. 68); ông thấy có bốn loại hình cơ bản của sự cam kết đạo đức học: tự do, bảo thủ, cấp tiến và vô chính phủ.
  3. Cấp độ ẩn dụ hay “chuyển nghĩa”.Đối với White, đây là cơ tầng “mang tính bản chất” nhất và sâu xa nhất (tr. 75), cấp độ ở đó “ý nghĩa … sẽ được cấu tạo bằng các tình thái khả hữu của bản thân ngôn ngữ tự nhiên, và nhất là bằng các chiến lược chuyển nghĩa chủ đạo qua đó các hiện tượng chưa được biết đến hay còn chưa quen thuộc được mang lại bằng các ý nghĩa bởi các loại chiếm đoạt ẩn dụ khác nhau.” Theo sau Kenneth Burke, ông nhận diện bốn “phép chuyển nghĩa chủ đạo”: ẩn dụ, hoán dụ, đề dụ, và mỉa mai (tr. 72). Trong sơ đồ lý thuyết của White, “các phép chuyển nghĩa” này giữ chức năng là “các hình thái tư tưởng” làm điều kiện và, theo cách nào đó, định hướng hay kiểm soát một cách căn bản các kiểu lựa chọn và kết hợp các chiến lược mỹ học, giải thích và đạo đức mà cá nhân các nhà sử học có thể chọn.

Harry Ritter, “Diễn giải”, Đinh Hồng Phúc dịch, Thông tin Hội Khoa học Lịch sử Bình Dương, số 43, tháng 7-2016, tr. 57-62. Bản gốc tiếng Anh: Harry Ritter, “Interpretation”, in Dictionary of concepts in history. New York: Greenwood Press, 1986. pp.  243-50.

Nguồn: http://triethoc.edu.vn/vi/chuyen-de-triet-hoc/triet-hoc-lich-su/khai-niem-dien-giai-trong-su-hoc_677.html

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Beal, Howard K. 1946. “What historians have said about the causes of the Civil War [Các nhà sử học đã nói gì về các nguyên nhân của cuộc Nội chiến].” Trong Bull. 54: 53-92.
  2. Beard, Charled, A. 1946. “Grounds for a reconsideration of historiography [Các cơ sở cho việc xem xét lại môn sử luận].” Trong Bull. 54: 3-14.
  3. —. [1934] 1959. “Written history as an act of faith [Lịch sử thành văn như là một hành vi của đức tin].” Trong Meyerhoff: 140-51.
  4. —-. [1935] 1972. “That noble dream.” Trong Stern: 315-28.
  5. Beard, Charles A., và Hook, Sysney. 1946. “Problems of terminology in historical writing: the need for greater precision in the use of historical terms. Illustrations [Các vấn đề về hệ thuật ngữ trong viết sử: cần có sự chính xác hơn trong  việc sử dụng các thuật ngữ sử học. Các ví dụ minh họa].” trong Bull. 54: 103-30.
  6. Berker, Carl L. [1932] 1935. “Everyman his own historian.” Trong Carl L. Becker, Everyman his own historian: essays on history and politics. New York: 233-55.
  7. —-.[1955] 1959’ “What are historical facts [Các sự kiện lịch sử là gì].” Trong Meyerhoff: 120-37.
  8. Blanke, Horst Walter; Fleischer, Dirk; và Rüsen, Jörn. “Theory of history in historical lectures: the German tradition of Historik 1750-1900 [Lý thuyết về lịch sử trong các bài giảng sử học: Truyền thống Đức trong Sử học 1750-1900].” History and Theory 23: 331-56.
  9. Briesach, Ernst. 1983. Historiography: ancient, medieval, and modern [Sử luận: cổ đại, trung đại, và hiện đại]. Chicago.
  10. Burger, Thomas. 1977. “Droysen’s defense of historiography: a note [Biện hộ của Droysen cho sử luận: chú thích” History and Theory 16: 168-73.
  11. Carr, E. H. [1961] 1964. What is history [Lịch sử là gì?] Harmindsworth.
  12. Collingwood, R.G. [1946] 1956. The Idea of history [Ý niệm lịch sử]. New York.
  13. Ermarh, Michael. 1978. Wilhelm Dilthey: the critique of historical reason [Wilhelm Dilthey: Phê phán lý tính lịch sử]. Chicago.
  14. Gruner, Rolf. 1967. “Understanding in the social sciences and history [Sự thông hiểu trong các khoa học xã hội và sử học].” Inquiry 10: 151-63.
  15. Higham, John. 1965. History. Englewood Cliffs, N.J.
  16. Hirsch, E. D., Jr. 1967. Validity in interpretation [Giá trị hiệu lực trong sự diễn giải]. New Haven, Conn.
  17. Hollinger, David A. 1973. “T. S. Kuhn’s theory of Science and its implications for history [Lý thuyết khoa học của Thomas Kuhn và những hàm ý của nó đối với sử học]. The American Historical Review 78: 370-93.
  18. Ho, David Couzens. 1980. “Hereneutics [Thông diễn học].” Social Research 47: 649-71.
  19. Levich, Marvin. 1964-65. Review of Sidney Hook, chủ biên, Philosophy and history: a symposium [Điểm sách Triết học và lịch sử: một cuộc hội tiệc do Sidney Hook chủ biên]. History and Theory 4: 328-49.
  20. Liebel, Helen P. 1971. “The Enlightenment and the rise of historicism in German thought [Phong trào Khai minh và sự nảy sinh của thuyết duy sử trong tư tưởng Đức].” Eighteenth-Century Studies 4: 359-85.
  21. Macaulay, Thomas Babinton. [1828] 1972. “On history”. Trong Stern: 72-89.
  22. Maclean, Michael J. 1982. “Johann Gustav Droysen and the development of historical hermeneutics [Johann Gustav Droysen và sự phát triển của thông diễn học lịch sử].” History and Theory 21: 347-65.
  23. Meiland, Jack W. 1965. Scepticism and historical knowledge [Thuyết hoài nghi và nhận thức lịch sử]. New York.
  24. Palmer, Richard E. 1969. Hermeneutics: interpretation theory in Schleiermacher, Dilthey, Heidegger, and Gadamer [Thông diễn học: lý thuyết diễn giải ở Schleiermacher, Dilthey, Heidegger, và Gadamer]. Evanston, III.
  25. Randall, John Herman, Jr., and Haines, George, IV. 1964. 9146. “Controlling assumptions in the practice of American historians[Các giả định đối chứng trong thực hành của các nhà sử học Mỹ].” Trong Bull. 54: 15-52.
  26. Reill, Peter Hanns. 1973. “History and Hermeneutics in the Aufklärung: the thought of Johann Christoph Gatterer [Sử học và thông diễn học trong thời đại Khai minh: tư tưởng của Johann Christoph Gatterer].” The Journal of Modern History 45: 24-51.
  27. Ritter, Gerhard. 1961-62. “Scientific history, contemporary history, and political science [Lịch sử khoa học, lịch sử đương đại và khoa học chính trị].” History and Theory 1: 261-79.
  28. Strayer, Joseph R. [1934] 1950. “Introduction [Dẫn luận].” Trong Strayer, ed., The interpretation of history [Diễn giải lịch sử], p. 3-26.
  29. White, Hayden. [1972-73] 1978. “Interpretation in history [Diễn giải trong sử học].” trong Hayden White, Tropics od discourse [Vùng nhiệt đới của diễn ngôn] Baltimore: 51-80.
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s