Gou Minh

Từ tháng 11 năm 1991 khi Trung Quốc và Việt Nam thực hiện bình thường hóa quan hệ đến nay, quan hệ hai nước đã bước vào một giai đoạn mới. Các đoàn cao cấp của hai nước không ngừng thăm nhau, quan hệ hợp tác hữu nghị trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hóa giữa hai nước có bước phát triển tương đối lớn. Có thể nói, trong quan hệ Trung – Việt sau bình thường hóa, quan hệ láng giềng hòa mục, hợp tác cùng có lợi là xu thế chủ yếu. Điều đó có ý nghĩa quan trọng đối với lợi ích lâu dài và cơ bản của nhân dân 2 nước Trung – Việt, đối với việc củng cố hòa bình và ổn định ở khu vực Đông Nam Á.

Chẳng cần kiêng dè là, giữa 2 nước Trung – Việt cũng còn một số bất đồng. Những bất đồng chủ yếu là các vấn đề biên giới đất liền, phân vạch biển và vịch, chủ quyền hải đảo. Bài này đưa ra một số phân tích thô thiển về sự tranh chấp giữa hai nước Trung – Việt về quần đảo Tây Sa và Nam Sa.

Chủ quyền quần đảo

Quần đào Tây Sa do 35 hòn đảo, bãi đá, bãi (châu) hợp thành. Trong đó 15 cái tương đối lớn, đảo Vĩnh Hưng lớn nhất, diện tích 1,85 km2. Đảo Cam Tuyền có nước ngọt, diện tích 1,3 km2. Đảo Vĩnh Lạc cách Việt Nam ở phía Tây khoảng 150 hải lý. Số đảo, bãi đá, bãi cát, bãi đá ngầm, bãi ngầm đã được đặt tên của quần đảo Nam Sa là 193 cái. Trong đó lớn nhất là đảo Thái Bình. Quần đảo Nam Sa nam – bắc dài khoảng 560 hải lý, đông – tây rộng khoảng 400 hải lý, nằm ở yết hầu của Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, chặn chỗ xung yếu trên đường hải vận giữa 2 biển. Vùng biển Nam Sa tàng chứa nguồn dầu mỏ và khí thiên nhiên cực kỳ phong phú, đồng thời, cũng là ngư trường tốt. Nó có giá trị kinh tế, giao thông và quân sự quan trọng.

Hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa từ xưa vẫn là lãnh thổ của Trung Quốc. Ngay thế kỷ 2 trước công nguyên thời Hán vũ đế, nhân dân Trung Quốc đã bắt đầu qua lại trên Nam Hải, lần lượt phát hiện ra quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa, từ đó khắc phục lớp lớp khó khăn, tiếp tục tới hai quần đảo này cần cù khai phá và quản lý. Từ đời Đường, Tống về sau, nghề hàng hải của Trung Quốc có bước phát trêỉn rất lớn, hiểu biết của nhân dân Trung Quốc về hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa không ngừng sâu thêm. Thêm nhiều thư tịch, sử sách của các đời Tống, Nguyên, Minh, Thanh ghi chép, nhân dân không những lần lượt đặt tên cho quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa là “Cửu Nhũ Loa Châu”, “Thạch Đường”, “Thiên Lý Thạch Đường”, “Vạn Lý Thạch Đường”, “Trường Sa”, “Thiên Lý Trường Sa”, “Vạn Lý Trường Sa”… mà còn đặt cho các đảo, bãi đá, bãi cát, bãi của hai quần đảo này nhiều tên có hình tượng sinh động. Ghi chép của sử sách Trung Quốc và nước ngoài cùng với việc ngư dân Trung Quốc không ngừng sống trên hai quần đảo này đủ để chứng minh, ngư dân Trung Quốc là chủ nhân duy nhất của quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa. Cùng với việc nhân dân Trung Quốc khai thác và quản lý hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa, chính phủ Trung Quốc các đời đã tiến hành cai quản và thực hiện chủ quyền tại hai quần đảo này. Đời Tống, chính phủ Trung Quốc đã cử thủy sư tuần sát vùng quần đảo Tây Sa vẽ bản đồ quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa của Trung Quốc, giao cho phủ Lương Châu, Hải Nam cai quản. Đời Nguyên cũng đưa rõ hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa vào cương vực Trung Quốc. Những thư tịch thời Minh, Thanh (năm 1368 – 1911) có ghi chép về việc hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa thuộc Trung Quốc thì càng có thể tra cứu đầy đủ. Năm Tuyên Thống thứ nhất (năm 1909) tổng đốc Lưỡng Quảng cử thủy sư Quảng Đông là Lý Chuẩn dẫn trên 170 quan quân hải quân, đáp 3 chiến hạm tuần sát quần đảo Tây Sa, tra rõ 15 hòn đảo, đặt tên khắc vào đá, và kéo cờ, bắn pháo trên đảo Vĩnh Hưng, một lần nữa khẳng định chủ quyền. Năm 1911, chính phủ Quảng Đông, Trung Quốc tuyên bố quần đảo Tây Sa thuộc huyện Nhai đảo Hải Nam cai quản. Những năm 30 – 40 của thế kỷ này, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa từng bị các cường quốc bên ngoài xâm chiếm. Năm 1945, sau khi Nhật Bản đầu hàng, tháng 11, tháng 12 năm 1946, chính phủ Trung Quốc lúc bấy giờ lần lượt cử các quan chức cao cấp tới tiếp thu quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa, cử hành nghi thức tiếp nhận long trọng trên đảo và lập bia kỷ niệm, phái quân đội tới đóng giữ. Ngày nay đảo Vĩnh Hưng ở Tây Sa và đảo Thái Bình ở Nam Sa vẫn bảo lưu chứng cứ lịch sử này. Ngày 15 tháng 8 năm 1951, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Chu Ân Lai, trong Tuyên bố về dự thảo hòa ước giữa Mỹ – Anh và Nhật Bản và Hội nghị San Francisco đã long trọng chỉ rõ: quần đảo Tây San, Nam Sa cũng giống như quần đảo Đông Sa, Trung Sa, “luôn là lãnh thổ Trung Quốc”. Chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa, “dù dự thảo hòa ước giữa Mỹ – Anh và Nhật Bản có quy định hay không và quy định như thế nào, đều không chịu bất kỳ ảnh hưởng nào”. Hàng loạt thực tế lịch sử chứng minh, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa là do Trung Quốc phát hiện sớm nhất, khai thác sớm nhất, cai quản sớm nhất, Trung Quốc là người duy nhất có chủ quyền đối với hai quần đảo này.

Nhưng từ những năm 70 của thế kỷ này về sau, quần đảo Nam Sa lại bị một số nước xung quanh Trung Quốc xâm chiếm. Từ năm 1970 đến năm 1980, Philippines lần lượt chiếm 8 hòn đảo và bãi đá: đảo Trung Nghiệp, đảo Tây Nguyệt… Từ năm 1975 đến nay, CHXHCN Việt Nam xâm chiếm trên 20 hòn đảo và bãi đá, như đảo Nam Lý…, đồng thời tuyên bố quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa đều thuộc lãnh thổ Việt Nam. Từ năm 1977, Malaysia bắt đầu xâm chiếm 3 bãi đá, như bãi Đại Hoàn. Do vậy đã hình thành nên một cục diện đấu tranh phức tạp hiện nay xoay quanh vấn đề Nam Hải.

Lập trường và thủ pháp của Việt Nam

Lập trường của CHXHCN Việt Nam (tức Việt Nam DCCH trước đây) đối với quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa trước năm 1974 là: hoàn toàn thừa nhận hai quần đảo trên thuộc về lãnh thổ Trung Quốc. Nhưng năm 1975, trước khi cuộc chiến tranh chống Mỹ của Việt Nam thắng lợi, nhà đương cục Việt Nam bỗng quay ngược hẳn lại lập trường trước đây, tiến hành tuyên truyền trong và ngoài nước, ngang nhiên nói rằng quần đào Tây Sa và quần đảo Nam Sa là lãnh thổ Việt Nam, và tháng 4 năm 1975 công nhiên đưa quân chiếm 6 hòn đảo và bãi đá thuộc quần đảo Nam Sa của Trung Quốc, về sau mở rộng dần phạm vi xâm chiếm, đến nay đã chiếm tất cả 21 hònd 9ảo và bãi đá thuộc Nam Sa. Việt Nam là nước xâm chiếm nhiều nhất các đảo và bãi đá ở Nam Sa, cũng là nước duy nhất đưa ra yêu cầu lãnh thổ đối với toàn bộ đảo, bãi đá và vùng biển của quần đảo của quần đảo Tây Sa của Trung Quốc.

Để thực hiện yêu cầu lãnh thổ nói trên, thủ pháp của nhà đương cục Việt Nam là như sau:

1/ Biện giải vô lý: Mọi người đều biết, năm 1974 trở về trước, từ tuyên bố, công hàm của chính phủ, đàm thoại của quan chức ngoại giao, bài và tin trên báo đảng cho đến bản đồ và sách giáo khoa xuất bản công khai, Việt Nam đều chính thức thừa nhận quần đảo Tây Sa và Nam Sa thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Những chuyện khác tâm không nói, chỉ lấy tuyên bố và công hàm thay mặt cho nhà nước làm thí dụ. Ngày 4 tháng 9 năm 1958, Chính phủ CHND Trung Hoa công bố Tuyên bố về lãnh hải, trong đó viết: “Lãnh hải của CHND Trung Hoa rộng 12 hải lý. Quy định này áp dụng cho toàn bộ lãnh thổ CHND Trung Hoa, bao gồm… quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa và tất cả các đảo khác thuộc về Trung Quốc”. Ngày 14 tháng 9 cùng năm Thủ tướng Chính phủ Việt Nam DCCH Phạm Văn Đồng gửi Công hàm cho Thủ tướng Quốc vụ viện CHND Trung Hoa Chu Ân Lai trịnh trọng biểu thị “Chính phủ Việt Nam DCCH thừa nhận và tán thành Tuyên bố của Chính phủ CHND Trung Hoa ngày 4 tháng 9 năm 1958 về quyết định lãnh hải”, và nói sẽ chỉ thị cho các cơ quan hữu quan của nhà nước Việt Nam “triệt để tôn trọng” quyết định này của Trung Quốc về lãnh hải. Ngày 22 tháng 9 cùng năm, trên cột đầu trang đầu tờ Nhân Dân của ĐCS Việt Nam đã đăng toàn văn công hàm này của chính phủ Việt Nam. Có nghĩa là Việt Nam đã tuyên bố với toàn thể nhân dân Việt Nam và công chúng thế giới về sự kiện quan trọng này. Lãi nữa, tháng 9 năm 1965 Chính phủ Việt Nam DCCH đã ra Tuyên bố về việc Mỹ xác định “khu vực tác chiến” của quân Mỹ tại Việt Nam, trong đó chỉ rõ: “Tổng thống Mỹ Johnson quy định toàn bộ Việt Nam và vùng biển phụ cận rộng khoảng 100 hải lý bên ngoài bờ biển Việt Nam cùng một phần lãnh hải của quần đảo Tây Sa của nước CHND Trung Hoa là “Khu vực tác chiến của lực lượng vũ trang Mỹ”, đó là “sự đe dọa trực tiếp đối với an ninh của Việt Nam DCCH và các nước láng giềng”. Ở đây Chính phủ Việt Nam lại một lần nữa xác nhận quần đảo Tây Sa là lãnh thổ của Trung Quốc. Công hàm và tuyên bố trên đây của chính phủ Việt Nam là có hiệu lực pháp luật đối với Việt Nam, chính phủ Việt Nam phải chịu trách nhiệm về việc này. Văn kiện do Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố năm 1988 cũng không thể không thừa nhận thực tế nói trên, nhưng phía Việt Nam trơ trẽn đưa ra một cách nói không mảy may có chút đạo lý để tiến hành biện giải, rằng “đúng, đích xác có tuyên bố nói trên. Nhưng cần đặt tuyên bố này vào bối cảnh lịch sử lúc ấy để xem xét. Những tuyên bố này được đưa ra trong thời gian từ năm 1956 đến năm 1965, lúc ấy Việt Nam đang phải tiến hành cuộc đấu tranh chống sự can thiệp và xâm lược của đế quốc Mỹ”, “từ 1965 Mỹ huy động cả bộ máy quân sự khổng lồ của mình để tiến hành cuộc chiến tranh cục bộ ở miền Nam và dùng không quân tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại ở miền Bắc Việt Nam. Nhân dân Việt Nam phải làm mọi việc có thể làm để chiến thắng xâm lược, quyết không thể để mất nước một lần nữa. Đây là vấn đề sống còn của dân tộc Việt Nam. Trong thời gian này Trung Quốc coi đế quốc Mỹ là kẻ thù chủ yếu, kiên quyết ủng hộ Việt Nam chống Mỹ và là “hậu phương lớn của nhân dân Việt Nam”. Trung Quốc là một trong những nước cung cấp viện trợ cho Việt Nam nhiều nhất. Trong cuộc đấu tranh chung chống Mỹ, hai nước Trung – VIệt đã trở thành bạn đồng minh chân chính.Quan hệ giữa hai nước có thể gọi là “môi hở răng lạnh”. Trong cuộc đấu tranh một mất một còn chống lại một kẻ xâm lược có lực lượng quân sự lớn hơn mình rất nhiều lần này, Việt Nam càng tranh thủ được sự gắn bó khăng khít của Trung Quốc với cuộc đấu tranh của Việt Nam thì càng có lợi cho việc ngăn chặn Mỹ sử dụng hai quần đảo và Biển Đông để tiến công Việt Nam. Cần dựa theo tinh thần đó, xuất phát từ bối cảnh đó để lý giải Tuyên bố nói trên”. Cách giải thích trên đây của Việt Nam e rằng ngay cả nhà đương cục Việt Nam cũng khó mà tin được. Trong thực tế, lúc bấy giờ Trung Quốc chi viện Việt Nam chống Pháp, chống Mỹ là hoàn toàn xuất phát từ mục đích chính nghĩa. Tuy Trung Quốc đã vì ủng hộ Việt Nam mà có sự hy sinh to lớn, nhưng Trung Quốc chưa hề nêu ra với Việt Nam bất cứ yêu cầu và điều kiện nào. Trong vấn đề quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa, những lời nói và việc làm không chịu trách nhiệm này và cách giải thích khó hiểu của nhà đương cục Việt Nam quả là có một không hai trên thế giới. Thử hỏi, những tuyên bố, công hàm của chính phủ Việt Nam DCCH dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều bị coi là không có hiệu lực thì Nghị quyết do Quốc hội Việt Nam thông qua hiện nay, trong đó đưa ra yêu cầu về chủ quyền đối với quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa của Trung Quốc là có bao nhiêu sức nặng? Điều này không thể không khiến người ta hoài nghi giá trị của những nghị quyết này.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Như

Nguồn: TĐB 96 – 10 & 11

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s