Chúng ta đã cố gắng đưa ra một bức tranh hoàn toàn khách quan về hai xu hướng tư tưởng triết học ngôn ngữ. Bây giờ chúng ta cần phải phân tích và phê bình kỹ lưỡng hai xu hướng đó. Chỉ sau đó chúng ta mới có thể trả lời câu hỏi đặt ra là: Vậy cái gì là trung tâm thực sự của thực tiễn ngôn ngữ: hành động nói cá nhân (phát ngôn) hay hệ thống ngôn ngữ? Và phương thức tồn tại của thực tại ngôn ngữ là gì: sự hình thành sáng tạo liên tục hay tính bất biến ổn định của những quy tắc tự đồng nhất?

Chúng ta hãy bắt đầu với việc phê bình xu hướng thứ hai – chủ nghĩa khách quan trừu tượng.

Trước hết, chúng ta hãy đặt câu hỏi: hệ thống các chuẩn mực ngôn ngữ tự đồng nhất, tức hệ thống ngôn ngữ theo cách hiểu của các đại diện của xu hướng thứ hai – là có thực đến đâu?

Tất nhiên, không có đại diện nào của xu hướng khách quan trừu tượng lại cho rằng hệ thống ngôn ngữ có tính thực tại vật chất, đồ vật. Quả thực, nó được thể hiện qua những thứ có tính vật chất – những ký hiệu, nhưng như là một hệ thống các hình thức tự đồng nhất quy chuẩn, nó chỉ thực với tư cách là một chuẩn mực xã hội mà thôi.

Các đại diện của xu hướng thứ hai không ngừng nhấn mạnh – và đây là một trong những luận điểm cơ sở của họ – rằng hệ thống ngôn ngữ là một hiện tượng khách quan nằm ngoài mọi ý thức cá nhân và độc lập với ý thức cá nhân đó. Thế nhưng, với tư cách là một hệ thống các chuẩn mực bất biến tự đồng nhất, nó chỉ là như vậy đối với ý thức cá nhân và từ quan điểm của ý thức đó.

Trên thực tế, nếu chúng ta tạm quên ý thức cá nhân chủ quan, cái đối diện với ngôn ngữ như là một hệ thống các chuẩn mực không thể cải biến, nếu chúng ta xem xét ngôn ngữ thực sự khách quan, từ bên ngoài, có thể nói như vậy, hay chính xác hơn, nếu chúng ta đứng trên cao để xem xét ngôn ngữ, thì sẽ không thể tìm thấy một hệ thống bất biến các chuẩn mực tự đồng nhất như vậy. Ngược lại, chúng ta sẽ đứng trước một quá trình hình thành liên tục các chuẩn mực ngôn ngữ.

Từ quan điểm thật sự khách quan, cố gắng nhìn ngôn ngữ độc lập với cái nó có vẻ là đối với một cá nhân cụ thể của cộng đồng ngôn ngữ vào một thời điểm cụ thể, ta sẽ thấy rằng ngôn ngữ hiện ra như một dòng phát triển liên tục. Từ điểm nhìn khách quan bên trên ngôn ngữ ta thấy không có một thời điểm thực nào mà tại đó ta có thể xây dựng một hệ thống ngôn ngữ đồng đại.

Hệ thống đồng đại, do đó, nhìn từ quan điểm khách quan, không tương ứng với bất kỳ thời điểm thực nào của quá trình phát triển lịch sử. Và quả thật, đối với nhà sử học ngôn ngữ, đứng trên quan điểm lịch đại, hệ thống đồng đại là không có thực và chỉ là một thứ sơ đồ ước lệ dùng để ghi lại những sai lệch xảy ra tại mỗi thời điểm thực.

Như vậy, hệ thống ngôn ngữ đồng đại chỉ tồn tại từ quan điểm ý thức chủ quan của cá nhân người nói, một thành viên của cộng đồng ngôn ngữ tại một thời điểm bất kỳ của lịch sử. Từ quan điểm khách quan, nó không tồn tại bất kỳ một thời điểm thực sự nào của thời gian lịch sử. Chúng ta có thể giả định rằng, khi Caesar đang viết các tác phẩm của ông, tiếng Latin đối với ông là một hệ thống ổn định và không thể cải biến của các hình thức tự đồng nhất quy chuẩn, nhưng đối với người nghiên cứu lịch sử tiếng Latin – tại chính thời điểm Caesar đang sáng tác – đó là một quá trình liên tục những biến đổi ngôn ngữ (ngay cả khi các sử gia không có khả năng ghi nhận chúng).

Mọi hệ thống chuẩn mực xã hội đều ở trong tình trạng tương tự. Nó chỉ tồn tại đối với ý thức chủ quan của các cá nhân thuộc về một tập thể nhất định được các chuẩn mực đó điều chỉnh. Các hệ thống chuẩn mực đạo đức, pháp lý, thị hiếu thẩm mỹ (trong thực tế có những chuẩn mực loại này)… đều như vậy. Tất nhiên, các chuẩn mực này rất khác nhau: khác nhau về trách nhiệm, khác nhau về phạm vi điều chỉnh xã hội, khác nhau về tầm quan trọng xã hội được xác định bởi khoảng cách giữa chúng với cơ sở hạ tầng… Tuy nhiên, bản chất sự tồn tại của chúng, với tư cách là các chuẩn mực, giống hệt nhau – chúng chỉ tồn tại trong mối quan hệ với ý thức chủ quan của các thành viên thuộc một tập thể nhất định.

Liệu từ đó có thể suy ra, rằng mối quan hệ của ý thức chủ quan cá nhân với ngôn ngữ như là một hệ thống các chuẩn mực khách quan không thể cải biến, là hoàn toàn không có tính khách quan hay không? Tất nhiên là không. Hiểu một cách đúng đắn, thì mối quan hệ này có thể là một sự kiện khách quan.

Nếu chúng ta nói: ngôn ngữ, như là một hệ thống các chuẩn mực bất biến và không thể can thiệp, tồn tại một cách khách quan – thì chúng ta đã sai lầm nghiêm trọng. Nhưng nếu chúng ta nói rằng ngôn ngữ, trong mối quan hệ với ý thức cá nhân, là một hệ thống các chuẩn mực bất biến, rằng đó là phương thức tồn tại của ngôn ngữ đối với mỗi thành viên của tập thể ngôn ngữ – thì chúng ta đã trình bày một mối quan hệ hoàn toàn khách quan. Một vấn đề khác, liệu chính bản thân sự kiện có được xác lập đúng đắn không, liệu có đúng là ngôn ngữ, đối với ý thức của người nói, chỉ là một hệ thống bất biến và cố định của các chuẩn mực hay không? Vấn đề này chúng ta tạm thời để ngỏ. Nhưng trong mọi trường hợp, vấn đề là phải xác lập một mối quan hệ khách quan.

Vậy các đại diện của chủ nghĩa khách quan trừu tượng nhìn nhận vấn đề như thế nào? Họ có khẳng định, rằng ngôn ngữ là một hệ thống các chuẩn mực tự đồng nhất một cách khách quan và không thể can thiệp không, hay họ có ý thức rằng đó chỉ là một phương thức tồn tại của ngôn ngữ đối với ý thức chủ quan của người nói một ngôn ngữ nhất định?

Câu hỏi này cần phải trả lời như sau.

Đa số các đại diện của chủ nghĩa khách quan trừu tượng có xu hướng khẳng định tính hiện thực trực tiếp, tính khách quan trực tiếp của ngôn ngữ như là hệ thống các hình thức tự đồng nhất quy chuẩn. Với các đại diện này của xu hướng thứ hai, chủ nghĩa khách quan trừu tượng biến hóa trực tiếp thành chủ nghĩa khách quan trừu tượng thực tồn . Những đại diện khác của xu hướng này (như Meillet) có quan điểm phê phán hơn và có quan tâm đến bản chất trừu tượng và ước lệ của hệ thống ngôn ngữ. Tuy nhiên, không đại diện nào của chủ nghĩa khách quan trừu tượng đi đến một cách hiểu rõ rang và chính xác về loại hoạt động đặc trưng cho ngôn ngữ, như một hệ thống khách quan. Trong đa số trường hợp, các đại diện này đứng chênh vênh giữa hai cách hiểu thuật ngữ khách quan khi áp dụng vào hệ thống ngôn ngữ: giữa các hiểu trong ngoặc kép như ta thường nói (từ quan điểm của ý thức chủ quan người nói) và cách hiểu không có ngoặc kép (từ quan điểm khách quan). Nhân đây cũng nói thêm, đó cũng chính là thái độ của Saussure; ông không đưa ra giải pháp nào rõ ràng về vấn đề này.

Ngôn ngữ như là hệ thống các chuẩn mực và điểm nhìn thực sự của ý thức người nói

Nhưng bây giờ chúng ta cần phải đặt câu hỏi, liệu có đúng là đối với ý thức chủ quan của người nói, ngôn ngữ tồn tại như là một hệ thống khách quan các hình thức tự đồng nhất quy chuẩn không thể can thiệp hay không; liệu cách quan niệm của chủ nghĩa khách quan trừu tượng về quan điểm của ý thức chủ quan người nói có chính xác hay không? Nói cách khác: phương thức tồn tại của ngôn ngữ trong ý thức chủ quan của người nói có thực là như vậy hay không?

Về câu hỏi này chúng ta buộc phải trả lời phủ định. Ý thức chủ quan của người nói tương tác với ngôn ngữ không phải như với một hệ thống các hình thức tự đồng nhất quy chuẩn. Hệ thống đó chỉ là một sự trừu tượng hóa, tạo nên bằng rất nhiều công sức, với một chủ đích nhận thức và thực tiễn nhất định. Hệ thống ngôn ngữ – đó là sản phẩm của sự tư biện bên trên ngôn ngữ, được thực hiện không phải bởi ý thức của chính người nói ngôn ngữ đó và không phục vụ cho mục đích trực tiếp của sự nói.

Trên thực tế, chủ đích của người nói luôn hướng tới một phát ngôn cụ thể mà người đó sẽ phát ra. Công việc của anh ta là phải áp dụng một hình thức tự đồng nhất quy chuẩn (giả thiết là nó hiện hữu) trong một bối cảnh nhất định. Tâm điểm của sức hút đối với nó không nằm ở các hình thức tự đồng nhất, mà ở cái ý nghĩa mới và cụ thể, mà nó sẽ nhận được trong bối cảnh cụ thể này. Đối với người nói, quan trọng không phải là cái hình thức giống nhau trong mọi trường hợp sử dụng, không có ngoại lệ, bất kể trong trường hợp nào. Không, đối với người nói, quan trọng là cái khía cạnh hình thức ngôn ngữ, mà nhờ đó hình thức ấy có thể trở nên hữu hiệu trong bối cảnh cụ thể, nhờ đó nó trở thành một ký hiệu thích hợp trong điều kiện của một bối cảnh cụ thể.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.N. Voloshinov – Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ – NXB ĐHQG HN 2015.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s