2/ Gán ghép gượng ép. Để chứng minh rằng thế kỷ 17 đến nay Việt Nam đã thực hiện chủ quyền đối với hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa, năm 1979 Việt Nam đã công bố sách trắng nhan đề Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, “căn cứ lịch sử” mà sách trắng nêu ra là Bản đồ vùng Quảng Ngãi trong bản đồ Việt Nam do Đỗ Bá chế tác ở thế kỷ 17 và cuốn Phủ biên tạp lục do Lê Quý Đôn soạn ở thế kỷ 18. Nhà đương cục Việt Nam coi những ghi chép của các tài liệu trên về bãi Hoàng Sa và cồn nổi Hoàng Sa là quần đảo Hoàng Sa nay Việt Nam nói tới, tức là quần đảo mà phương Tây gọi là Sprasel (cũng tức là quần đảo Tây Sa của Trung Quốc). Hai tài liệu này miêu tả như sau về vị trí địa lý, diện tích, địa mạo bãi Hoàng Sa và cồn nổi Hoàng Sa như sau:

Về vị trí địa lý, tài liệu của Việt Nam nói:

“Trong biển có một bãi cát dài, tên gọi là bãi Cát Vàng (có nghĩa là bãi Hoàng Sa), từ cửa Đại Chiếm vượt biển tới đó mất một ngày rưỡi. Từ cửa Sa Kỳ tới đó mất nửa ngày” (5) Đỗ Bá). Có nghĩa là từ cửa Đại Chiếm (tức là cửa biển lớn ở tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, Việt Nam hiện nay) vượt biển tới bãi Hoàng Sa chỉ cần một ngày rưỡi, từ cửa Sa Kỳ (nay là cửa biển gần huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam) vượt biển tới bãi Hoàng Sa chỉ mất nửa ngày. Trong thực tế, quần đảo Tây Sa của Trung Quốc cách bờ biển Trung Bộ Việt Nam tới 200 hải lý, căn cứ theo kỹ thuật hàng hải lúc bấy giờ, đáp thuyền với nửa ngày hay một ngày rưỡi căn bản không thể đến được một nơi xa như vậy.

Về chiều dài và diện tích, tài liệu của Việt Nam nói: “Trong đảo có cồn nổi Hoàng Sa, dài khoảng trên 30 dặm, bằng phẳng rộng rãi, nước trong thấy đáy”. Trong thực tế, hòn đảo lớn nhất trong quần đảo Tây Sa của Trung Quốc là đảo Vĩnh Hưng, dài không tới 2 km, diện tích không quá 1,85 km2.

Về địa hình địa mạo, tài liệu của Việt Nam nói “xã An Bình, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi ở gần biển, phía đông bắc ngoài biển có đảo. Nhóm núi non linh tinh trên 130 đỉnh”. Trong thực tế, các đảo trong quần đảo Tây Sa của Trung Quốc chỉ cao hơn mặt biển 5 – 6 mét, nơi cao nhất cũng không quá 15,9 mét, căn bản không có cái gọi là “nhóm núi”. Toàn bộ đảo, bãi đá, bãi cát, bãi của quần đảo Tây Sa chỉ có 35 cái, càng không thể nói là “trên 130 đỉnh”.

Qua đó có thể thấy quần đảo Hoàng Sa mà Việt Nam nói căn bản không phải là quần đảo Tây Sa của Trung Quốc, mà chỉ là một số đảo, bãi cát ven biển Trung Bộ của Việt Nam. Cái thủ pháp gán ghép gượng ép này đã nói lên một cách rõ ràng nhất rằng quần đảo Tây Sa không phải là lãnh thổ Việt Nam.

Còn về quần đảo Nam Sa, Sách trắng của Việt Nam nói là “căn cứ vào Đại Nam nhất thống toàn đồ (thế kỷ 19) của Việt Nam. Đây là bản đồ thời triều Nguyễn của Việt Nam, chế tác vào khoảng năm 1838. Trên bản đồ có ghi hai tên “Hoàng Sa” và “Trường Sa” thuộc lãnh thổ Việt Nam”. Chỉ cần khảo cứu đôi chút sẽ không khó nhận ra là năm chế tác Đại Việt nhất thống toàn đồ rất thành vấn đề, Sách trắng không đưa ra được bất kỳ lý do nào để ủng hộ cho lập luận “chế tác vào khảong năm 1838”. Có dấu hiệu cho thấy, cái gọi là Đại Nam nhất thống toàn đồ thực ra là chế phẩm sau thời Việt Nam thuộc Pháp. Chẳng hạn năm 1975, người Việt Nam là Vũ Long Tê, trong bài Vấn đề địa danh học hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (đăng “Đặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa”) nói: “Bức bản đồ này là một bản sao mà ông Chu Ngọc Thôi, nguyên chủ nhiệm Văn phòng Phủ Quốc Vụ Khanh phụ trách về công tác văn hóa, hiện là trợ lý Phủ Phó Thủ tướng phụ trách kế hoạch phát triển quốc gia kiêm Liên lạc viên Quốc hội sưu tầm được cách đây khá lâu, và có nhã ý trao cho chúng tôi sử dụng”. Điều đó nói lên rằng Đại Nam nhất thống toàn đồ mà cuốn Sách trắng của Việt Nam đưa ra chỉ là một bản sao mà lúc bấy giờ, để đáp ứng nhu cầu chính trị của nhà đương cục Việt Nam là muốn bá chiếm hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa của Trung Quốc, Chu Ngọc Thôi ném ra. Đặc biệt cần chỉ ra rằng, nhìn vào bức bản đồ này người ta có thể thấy rõ ràng, “Hoàng Sa” và “Vạn lý Trường Sa” là ghi dấu một nơi ngang với bờ biển Trung bộ Việt Nam, cách bờ biển Việt Nam không xa, chứ không phải ở vị trí địa lý của 2 quần đảo Tây Sa và Hoàng Sa của Trung Quốc. Điều đó lại một lần nữa chứng tỏ rõ ràng “Hoàng Sa”, “Vạn lý Trường Sa” mà Sách trắng của Việt Nam nói tới chẳng qua chỉ là một số đảo và bãi cát ven biển Việt Nam, chứ quyết không phải là quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa của Trung Quốc.

3/ Sửa đổi tùy tiện. Trước hết là Việt Nam đã tùy tiện sửa đổi một số văn kiện hội nghị quốc tế để tiến hành biện giải cho yêu cầu lãnh thổ của mình. Nguyên văn Tuyên ngôn Cairo cuối năm 1943 về vấn đề tước đoạt các đảo mà Nhật Bản đã chiếm cứ có nói: “Tôn chỉ của 3 nước là tước đoạt tất cả các đảo mà từ sau năm 1914 khi Thế chiến I bắt đầu Nhật Bản đã cướp đoạt hoặc chiếm lĩnh ở Thái Bình Dương, là làm sao cho những lãnh thổ mà Nhật Bản đã cướp của Trung Quốc, như Mãn Châu, Đài Loan, quần đảo Bành Hồ.. được trả về cho Trung Hoa Dân quốc. Ở đây trước khi nói đến việc Nhật Bản cần trả những lãnh thổ mà nó đã cưỡng chiếm của Trung Quốc có chữ “như”, sau đó lại có chữ “v.v..”. Rất rõ ràng, đoạn văn này có nêu thí dụ, không thể liệt kê toàn bộ lãnh thổ của Trung Quốc mà Nhật Bản chiếm cứ. Nhưng khi dẫn đoạn văn này, Việt Nam muốn cố tình bỏ đi chữ “v.v…”, chẳng hạn trong văn kiện Quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và luật quốc tế do Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố tháng 4 năm 1988 đã làm như vậy. Trong cuốn Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một phần lãnh thổ Việt Nam do một học giả Việt Nam viết cũng diễn cái trò đó. Thủ pháp này thật không vẻ vang chút nào.

Để mở rộng lãnh thổ, nhà đương cục Việt Nam còn sửa đổi phạm vi vùng biển quần đảo Nam Sa. Ngày 8 tháng 5 năm 1992, Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc và Công ty Năng lượng Criston Mỹ ký một hợp đồng thăm dò dầu mỏ và khí đốt trong vùng biển bãi Vạn An thuộc quần đảo Nam Sa Trung Quốc (gọi là hợp đồng “Bắc Vạn An – 21” Nam Sa), khu vực hợp đồng nằm trong vùng biển quần đảo Nam Sa thuộc chủ quyền Trung Quốc cai quản, diện tích 25.112 km2. Nhưng nhà đương cục Việt Nam phủ nhận khu vực bãi Vạn An là thuộc phạm vi quần đảo Nam Sa. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam nói, hợp đồng nói trên giữa Trung Quốc và Mỹ “là vô hiệu, nó xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền thềm lục địa và vùng kinh tế thuộc Việt Nam, vi phạm luật pháp quốc tế”. “Khu vực bãi Tư Chính (tức bãi Vạn An) hoàn toàn nằm trong thềm lục địa và vùng kinh tế chuyên thuộc của Việt Nam. Việt Nam có lợi ích chủ quyền hoàn toàn rõ ràng đối với vùng này, đó là điều phù hợp với quay định của luật pháp quốc tế hiện đại. Ở đây không có vấn đề “khu vực tranh chấp” như một số người cố tình tạo ra hoặc một số người khác hiểu lầm”. Đây hoàn toàn là một sự sửa đổi tùy tiện. Mọi người đều biết, việc vùng nước bãi Vạn An thuộc phạm vi quần đảo Nam Sa đã được quốc tế thừa nhận. Nhiều bản đồ chính thức trên thế giới, như Danh mục địa danh quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa do Cục Bản đồ Quốc phòng Mỹ xuất bản năm 1987, đã được Hội đồng Địa danh Quốc gia Mỹ thẩm định, Bản đồ quần đảo Tây sa và quần đảo Nam Sa do Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) xuất bản năm 1992 và Chỉ dẫn địa danh quần đảo Nam Sa do Bộ Quốc phòng Australia xuất bản năm 1988 đều xác nhận 5 bãi đá ở khu 21 – Bắc Vạn An là một phần của quần đảo Nam Sa. Ngay cả bản đồ do Việt Nam xuất bản, như: Bản đồ hành chính Việt Nam, Lào, Campuchia do Cục Bản đồ Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam in lần thứ nhất năm 1981 và in lại tháng 9 năm 1984, Bản đồ hành chính Việt Nam do Cục Bản đồ Nhà nước Việt Nam xuất bản năm 1986, Bản đồ hành chính Việt Nam, Lào, Campuchia do Cục Bản đồ Bộ tổng Tham mưu QĐND Việt Nam xuất bản năm 1989 và bản đồ Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa kèm theo văn kiện của Bộ Ngoại giao Việt Nam năm 1988 đều ghi rõ các bãi Vạn An thuộc về “khu vực quần đảo Trường Sa”. Nhà đương cục Việt Nam đưa Công ước về Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc (dưới đây gọi tắt là “Công ước”) ra để tìm căn cứ cho yêu cầu lãnh thổ của mình. Việt Nam cho rằng “Công ước” quy định thềm lục địa kéo dài ra ngoài bờ biển 200 hải lý. Các nước ven biển có thểm lục địa tương đối rộng có thể hưởng thềm lục địa không quá 300 hải lý ngoài đường bờ biển hoặc 100 hải lý ngoài đường nước sâu 2500m. Dựa vào đó, Việt Nam nhận định khu “Bắc Vạn An – 21” thuộc về phạm vi thềm lục địa Việt Nam. Nhưng phía Việt Nam quên rằng quy định nói trên của “Công ước” về thềm lục địa là nhằm đưa ra tiêu chuẩn để các nước có biển xác định đường phân giới giữa thềm lục địa của mình và vùng biển quốc tế. Bởi vậy, khoản 10 của Điều 76 của “Công ước” quy định, “quy định của điều này không gây trở ngại cho vấn đề hoạch định giới hạn thềm lục địa giữa các nước có bờ biển nhìn vào nhau hoặc giáp nhau”. Có nghĩa là quy định ở điều này không vận dụng cho việc giới hạn thềm lục địa giữa các nước có bờ biển giáp nhau hoặc nhìn vào nhau. Như vậy, giữa quần đảo Nam Sa và Việt Nam sẽ phát sinh vấn đề chồng nhau về thềm lục địa. Đối với loại vấn đề này, “Công ước” chưa quy định việc giới hạn vùng kinh tế chuyên thuộc và thềm lục địa giữa các nước nhìn nhau và giáp nhau cần hiệp thương hoạch định trên cơ sở luật quốc tế để đạt tới cách giải quyết công bằng. Bởi vậy, nhà đương cục Việt Nam không đếm xỉa đến quyền và lợi ích về biển của nước khác, đơn phương hoạch định phạm vi thềm lục địa của mình là thiếu căn cứ pháp lý quốc tế.

Bãi Vạn An… có thuộc quần đảo Nam Sa không, là điều mà nhà đương cục Việt Nam từ chỗ thừa nhận trước đây đi tới chỗ phủ nhận hiện nay, ý đồ của sự thay đổi này rõ ràng là ở chỗ nhăm nhe dầu khí ở vùng biển gần bãi Vạn An, tách vùng này ra khỏi quần đảo Nam Sa hiện còn tranh chấp, vậy là có thể thực thi quyền cai quản, gạt đối tượng khác ra ngoài và giành lấy nguồn tài nguyên ở đó. Cách làm vi phạm “nguyên tắc công bằng” đó sẽ không thể thành công.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Như

Nguồn: TĐB 96 – 10 & 11

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s